“Hai Ngàn Năm Một Thuở, chứng từ của một số người công giáo ”
ĐIỂM SÁCH
Bài này tôi xin được kính tặng thầy Mãn Giác để kỷ niệm tình thầy trò trong hơn 20 năm qua.
Một cuốn sách gồm những bài viết của 15 tín hữu công giáo do tạp chí Tin Nhà xuất bản, giáo sư Đỗ Mạnh Tri là người đề xướng. Sách dầy 255 trang, đề giá 10 MK, nhà xuất bản TIN, địa chỉ 54 Avenue Léon-Blum, 92160 Antony, France.
Bài này tôi xin được kính tặng thầy Mãn Giác để kỷ niệm tình thầy trò trong hơn 20 năm qua.
Một cuốn sách gồm những bài viết của 15 tín hữu công giáo do tạp chí Tin Nhà xuất bản, giáo sư Đỗ Mạnh Tri là người đề xướng. Sách dầy 255 trang, đề giá 10 MK, nhà xuất bản TIN, địa chỉ 54 Avenue Léon-Blum, 92160 Antony, France.
Bài điểm này của một độc giả đưa ra một số phê bình sau khi đọc. Ngoài ra, nó còn là một sự hưởng ứng để đáp lại những thịnh tình cố gắng của những người viết.
Đây là một cuốn sách khá đặc biệt, được hình thành một cách hữu ý trong giai đoạn chuyển tiếp của thiên kỷ thứ 2. Hầu hết những tín hữu công giáo đã tự nguyện viết ra những điều trung thực về những ưu khuyết điểm cũng như những sự kiện lịch sử chính yếu liên quan đến giáo hội công giáo từ nhiều thế kỷ qua.
Có thể tạm xem cuốn sách là một tiếng nói đại diện cho tầng lớp trí thức công giáo Việt Nam (hải ngoại) chứa đựng những lời tự thú cũng như tự hào của những tín hữu. Qua cuốn sách, họ phát biểu tâm sự của họ và đồng thời cũng mong muốn được nghe những tiếng nói đáp lại của người cùng hay không cùng tín ngưỡng về những vấn đề của đất nước lẫn nội bộ công giáo.
Từ xưa đến nay, thái độ của đại đa số người công giáo thường vẫn khép kín trong đức tin của mình, nhưng lần này, những tâm sự, cảm nghĩ đã được gửi đến độc giả một cách công khai qua một cuốn sách được bầy bán, và chính độc giả là những người được “mời gọi đáp ứng” qua phần “lời thưa với bạn đọc” ở những trang đầu cuốn sách lẫn “Lời Bạt” ở cuối cuốn sách. Theo tôi, đây là một điều tích cực và may mắn. Có thể xem bài điểm này là một cuộc đối thoại thẳng thắn thân mật giữa người viết và người đọc.
Cuốn sách đặt ra 5 câu hỏi, nội dung xoay quanh những vấn đề liên quan đến quá trình lịch sử công giáo Việt Nam và những đề nghị cho tương lai đất nước. Những câu hỏi như sau:
_Những ưu và khuyết điểm của giáo hội công giáo?
_Muốn dứt khoát hướng về tương lai, tín hữu công giáo nên có thái độ nào đối với quá khứ của cộng đoàn công giáo?
_Người công giáo có trách nhiệm nào trong vấn đề dân chủ hóa đất nước?
_Khi đất nước hết cộng sản, những điều kiện nào chính yếu để đưa đến sự hợp tác xây dựng giữa những tôn giáo khác nhau?
_Những gì tín hữu cần làm để phục vụ quê hương và giáo hội trong Thế Kỷ 21?
Trong bất cứ thời đại nào, nhưng nhất là vào thời buổi hiện đại, sự cảm thông, khoan nhượng và dung hòa giữa những khác biệt tôn giáo hay chính trị là một điều vô cùng cần thiết giữa người với người. Máu đỏ của nhân loại đã thấm ướt mặt trái đất từ hơn 2000 năm nay và vẫn còn đang tiếp diễn không ngừng chỉ vì những khác biệt rất cũ và rất vô lý về ý thức hệ chính trị hay tôn giáo. Tôi viết những dòng này trong lúc những biến động giữa Do Thái và Palestine đang đi vào trong giai đoạn máu đổ thịt rơi một cách hết sức tàn bạo vô ý nghĩa giữa những kẻ thờ cùng một Chúa, khi mà vấn đề nhân quyền ở Việt Nam vẫn còn là một vấn đề nan giải sau một phần tư thế kỷ thay đổi thể chế. Ngoài ra, với bao nhiêu hiểm họa về mọi mặt trên thế giới, nhất là sự tàn phá môi sinh không ngừng của bàn tay con người, không một ai trong chúng ta không thể không lo lắng và không đặt ra những câu hỏi như: Trong thế kỷ 21 chúng ta sẽ sống như thế nào để có thể ứng hợp với một thế giới và môi trường càng ngày càng phức tạp? Chúng ta sẽ còn tồn tại như một loài ký sinh trùng biết suy nghĩ trên một hạt bụi gọi là địa cầu, hay chúng ta đang vô tình tự sát một cách ngu xuẩn về cả 2 mặt tâm linh lẫn vật chất vì sự u mê và cuồng vọng của con người?
Nhìn qua, cuốn sách có được một sự đồng nhất về một số vấn đề chung, như việc tiếp tục tranh đấu đòi hỏi chế độ cộng sản Việt Nam phải tôn trọng tự do nhân quyền, là những nền tảng căn bản quan trọng của con người trong bất cứ chế độ chính trị nào. Tuy những phát biểu không hoàn toàn giống nhau nhưng hầu hết mọi người viết đều có những hoài bão và ước mơ chung. Hầu hết đều có những đóng góp ý kiến sáng suốt và thiết thực trong việc tạo dựng một Việt Nam hậu cộng sản.
Về những phê bình đối với giáo hội và lịch sử lâu dài của hệ thống thần quyền này, nhiều tác giả đã tỉnh ngộ và vỡ lẽ ra được những sự thật không đẹp, những khuyết điểm nặng nề, từ cách hiểu tín lý cho đến cách hành đạo lẫn truyền đạo, vì thế, một số người đã phê bình thẳng thắn những nhược điểm của giáo hội. Một số khác tương đối nhẹ nhàng hơn nhưng cũng bộc trực trong phát biểu. Nói chung, giáo hội Vatican vẫn còn là một tổ chức thế tục chặt chẽ và có thế lực trên thế giới, nhưng đã bị chính giới trí thức công giáo Việt nam thức thời xem như một con tàu đã cũ và lỗi thời, cần thay đổi về mọi mặt để có thể đáp ứng với bao nhiêu đòi hỏi của những vấn đề xã hội phức tạp trong thế kỷ 21. Anh em nhìn nhận đây là một vấn đề rất khó và tế nhị, một phần vì tâm thức của Vatican là một tâm thức lãnh đạo tập thể đã bị thời gian làm sơ cứng.
(Tất cả bài viết đều giá trị, nhưng bài viết khúc chiết nhất về những vấn đề này là bài của Giáo sư Tri với những lý giải triết lý chính trị tinh vi.)
Ngoài ra, tất cả người viết đều hãnh diện vì theo họ công giáo đã đóng góp những vai trò lớn lao trong mọi lãnh vực thế tục và ảnh hưởng rộng rãi đến mọi tầng lớp, góp phần nâng cao trình độ dân trí nói chung trên khắp thế giới, nhưng cũng như con dao hai lưỡi, một số anh em cũng thú nhận giáo hội và chính sách truyền đạo để “mở mang nước Chúa” trong những thế kỷ qua cũng đã là một trong những nguyên nhân chính tạo nên chia rẽ và bạo động ở nhiều nơi trên thế giới.
Nói chung, tất cả đều hãnh diện mình là người công giáo và đã góp phần tích cực vào sự xây dựng quốc gia. Hãnh diện vì công giáo đã đào tạo được bao nhiêu nhân tài cho đất nước trong nhiều thập niên vừa qua. Theo họ, không có dấu ấn của KiTô giáo thì không có được một thế giới như thế giới hiện đại chúng ta đang sống.
Nhân dịp này, tôi cũng xin được phép tự trình bày đôi dòng về một số sự kiện cá nhân: Trong quá khứ, tôi đã là một tín hữu Tin Lành, đã chịu phép rửa tội, và đã trải qua thời học trò mài đũng quần trong 4 trường tiểu học và trung học công giáo. Tôi khá quen thuộc với giáo lý, phúc âm, kinh thánh và đã một thời hãnh diện với niềm tin KiTô của mình. Ngày nay, khi bỏ đạo, tôi cũng không hề có mặc cảm với quá khứ. Những gì tôi học được ở KiTô giáo là những điều giá trị chọn lọc, thể hiện qua những câu trong thánh kinh như, “Yêu người như yêu chính mình”, “Hãy như con trẻ”, “Hãy làm cho người những gì mình muốn người làm cho mình”, là những bài học xử thế chứa đựng luân lý vị tha và cao thượng ở KiTô giáo.
Ngày gia đình tôi chân ướt chân ráo đến Mỹ tị nạn, mẹ và anh em tôi đã được một nhà thờ tin lành bảo trợ. Vị mục sư Mỹ là một người bác ái, nhân hậu. Trong một ngày chủ nhật sau buổi giảng đạo, ông đãmời chúng tôi lên trên bục, giới thiệu với tín hữu, hoan nghênh chúng tôi đến xứ sở của họ, và ông kêu gọi đóng góp tiền bạc và thì giờ để trợ giúp. Một hội trường khoảng 200 người Mỹ đứng lên vỗ tay hoan hô một lũ tị nạn lôi thôi lếch thếch đã đến với họ! Từ đâu đến? Từ một đất nước triền miên máu lửa chiến tranh với hơn 50 ngàn lính Mỹ bỏ mạng sống và hàng trăm ngàn người thương tích tật nguyền. Thái độ hoan nghênh của họ chứng tỏ họ có tư cách, phép lịch sự, có tinh thần bác ái, có sự cảm thông, biết nhìn nhận quyền sống và quyền đi tìm tự do của con người không phân biệt chủng tộc và tôn giáo. Đó là những điểm son lớn cho văn hóa KiTô.
Lẽ ra, họ phải nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thù hận và khinh bỉ thì mới đúng lẽ thường tình của thế thái nhân tình.
Sau đó, khoảng hai mươi người Mỹ già trẻ, kể cả vợ chồng ông mục sư, đã đến căn nhà cũ kỹ chúng tôi thuê trong hai ngày cuối tuần để dọn dẹp sửa sang nhà cửa. Biết gia đình tôi đạo Phật, họ đã đóng dùm và sơn phết bàn thờ Phật. Họ tôn trọng tín ngưỡng của chúng tôi. Tất cả đều vui vẻ, thân mật và tự nhiên như anh em. Nụ cười vô tư và bàn tay giúp đỡ của họ là những món quà vô giá cho đám tị nạn lạc lõng.
Nghĩ lại những người Mỹ trong nhà thờ ấy, tôi luôn luôn tri ân tấm lòng của họ.
Tôi tự hỏi: Những ân nhân vô danh ấy là ai? Những con người không cùng chủng tộc, không cùng tôn giáo, không cùng đất nước, nhưng đã đến với chúng tôi trong tình thân ái như anh em một nhà? Họ là ai nếu không là những chứng nhân điển hình rõ rệt cho những giá trị cao đẹp, vị tha, bác ái mà văn hóa KiTô đã mang lại cho thế giới và nhân loại.
Đó là những sự việc cá nhân đã xẩy ra trong đời chúng tôi. Và tuy không còn trong đạo, những điều hay của KiTô giáo là những gì tôi luôn gìn giữ.
Khi tôi trưởng thành, muốn tìm hiểu thêm về tôn giáo, và cũng để đi tìm một lối thoát cho tư tưởng của mình về những bí mật của con người, của vũ trụ, tôi đã gặp lại đạo Phật và trở về với triết lý của Phật giáo. Triết lý nhà Phật đã giải thích cho tôi một số câu hỏi siêu hình của cá nhân tôi. Những câu hỏi này KiTô giáo đã không thỏa mãn được tôi. Theo tôi, KiTô giáo không thể nào đạt tới được chiều sâu của triết lý Phật giáo. KiTô giáo đòi hỏi nhiều tín lý và phép lạ vốn là những chuyện cá nhân tôi rất chống đối, ngoài ra, KiTô giáo còn có một lịch sử lập giáo và hành đạo đen tối, đồng thời tín lý chứa đựng quá nhiều chuyện hoang đường và mâu thuẫn. Trong khi đó, triết lý Phật giáo càng ngày càng được ánh sáng khoa học chiếu rọi và trở thành những chân lý hiển nhiên trong đời sống.
Tôi không muốn phân biệt hơn kém giữa hai triết lý KiTô và Phật giáo để mà tạo chia rẽ, hiểu lầm, trong một tờ báo đứng đắn và thẩm quyền của Phật giáo. Không thể và không nên so sánh một cách cực đoan tôn giáo nào “tốt” hơn tôn giáo nào. Mỗi nền triết lý có thể trả lời cho chúng ta một số đòi hỏi riêng tư thuộc vấn đề tâm linh hoàn toàn có tính cách cá nhân và những ai vốn có tâm hồn hướng thượng đều tìm được những điểm hay ở tôn giáo mình. Tôn giáo chỉ là phương tiện, không hề là cứu cánh. Tuy nhiên, người Việt Nam nói chung, khi so sánh với những dân tộc tiền tiến, theo tôi thấy, theo đạo thì nhiều nhưng vì trình độ học vấn nghèo nàn của dân tộc, họ vẫn chưa nhận ra được giá trị mà tôi gọi là tinh thần phát huy của KiTô giáo. Vì lẽ này, họ bị tôn giáo sai khiến, điều khiển và dễ bảo thủ, cố chấp trong bốn bức tường tôn giáo vô hình.
Tôn giáo, phải chăng đó là con dao hai lưỡi nguy hiểm đối với những kẻ chưa tự nắm vững được những giá trị căn bản thiêng liêng của quyền làm người?
Độc giả đọc đến đây, Phật giáo hay công giáo, thiết tưởng cũng không cần phải đồng ý hay bất đồng ý với tôi. Điều quan trọng là hãy tự hỏi: Trong lãnh vực tôn giáo cũng như chính trị, chúng ta đã đạt đến khả năng bất đồng ý với chính những gì mình đang nghĩ và suy tôn hay không. Không có khả năng đó, không có khả năng “phùng Phật sát Phật”, không có tính hoài nghi, chúng ta chỉ là những kẻ nhai lại, một đàn thú nhắm mắt theo chân những con vật đi trước. Những lối mòn tuy dễ đi nhưng chưa chắc sẽ dẫn chúng ta đến chân lý mà đôi khi chỉ dẫn đến vực thẳm.
Tôi xin mỗi người hãy tự đặt nghi vấn và thành khẩn đi tìm cho mình những câu trả lời. Hãy chú trọng đến những câu hỏi siêu hình phát hiện trong mỗi giai đoạn của cuộc đời mỗi cá nhân. Theo tôi, chân lý là những gì ở trong ta, và sự vô minh cũng là những gì ở trong ta. Và tôi nói điều đó trong tư cách một cựu tín hữu KiTô theo tinh thần câu nói trong thánh kinh, “Hãy tìm kiếm thì sẽ gặp”
Tìm kiếm, chứ không phải ngửa tay nhận lãnh.
Trở lại cuốn sách, những người viết sau đây đã đóng góp những ý kiến giá trị đáng đọc:
Lê Thị Bạch Nhựt&Nguyễn Văn Tánh
Trần Ngọc Tá
Phạm Hữu Trác
Trịnh Viết Đức
Trần Phong Vũ
Sau đây là những nhận định của tôi về một số bài viết:
Trần Ngọc Báu:
Anh TNB nêu ra được những sự thật về tâm lý con người qua một bài viết chi tiết và theo tôi là một bài xuất sắc. Anh đưa ra nhiều suy nghĩ về quan niệm “ứng nhập đức tin, văn hóa tôn giáo” đặc sắc. Những trình bày của anh nếu đọc lướt qua dường có một số điểm trái ngược với quan niệm của giáo sư Tri, nhưng điều này tôi thấy chỉ làm súc tích và phong phú thêm cho cuốn sách chứ không tạo ra một mâu thuẫn trầm trọng giữa hai luồng tư tưởng.
Anh Báu đã viết một như câu sau, “GiáoHộiLaMã chỉ có thể là một giáo hội hoàn vũ khi đã thực sự nhập thế và sống động tại các địa phương, trong đó có địa phương tôi sống.”
Và anh nói tiếp, “GHLM có xu hướng đồng hóa các giáo hội địa phương theo mẫu mực văn hóa tôn giáo của GHLM. Có thực vậy không và tại sao lại thế?”
Hãy đọc thêm một vài nhận xét khác của anh rải rác trong bài:
“Khi tôi thành tâm tin Chúa, đức tin ứng nhập vào con người Việt Nam tôi mà không hủy hoại bản sắc Việt Nam nơi tôi”
“Khó là vì người Việt Nam công giáo xưa nay cứ tưởng nhầm là nhất nhất cái gì của đạo đều phải nằm trên và nằm ngoài dân tộc hết”
Tôi đồng ý. Tính vọng ngoại và thái độ “nô lệ bề trên” hình như vẫn còn vất vưởng trong tâm thức khá nhiều người công giáo VN, nhất là những tín hữu già nua thuộc thế hệ cũ. Tại sao? Tôi hy vọng thế hệ trẻ tuổi cởi mở, không có thái độ phục dịch như của cha anh họ. Họ cũng không còn tin theo nghĩa đen những chuyện cổ tích trong kinh thánh. Họ xem đó là những chuyện ngụ ngôn khoác bộ áo huyền hoặc.
Anh viết tiếp:
“Hiểu đạo là một chuyện, mà tin đạo là một chuyện khác! Người ta có thể tìm hiểu đạo Phật thật rốt ráo, nhưng không phải vì thế mà phải tin theo đạo Phật.”
Đây là một nhận xét chính xác về tín ngưỡng KiTô nhưng sai lầm khi áp dụng cho Phật giáo. Viết như anh cho thấy anh đã khám phá ra một điểm khác biệt quan trọng, đó là “hiểu” và “tin” là hai điều hoàn toàn khác nhau. Có những người khi chưa hiểu rõ một điều gì đó thì họ tin đó là sự thật, từ những thứ như đĩa bay cho đến những thứ siêu hình như linh hồn, thiên đàng hỏa ngục (cũng như trẻ con tin có ông già noel) nhưng khi hiểu rồi thì nhận ra rằng đó chỉ là những chuyện hoang tưởng và mê tín.
Về lý luận “tin theo đạo Phật” của anh Báu, tôi xin nói: đạo Phật không phải là một hệ thống giáo lý đòi hỏi phải có “đức tin” hay “mặc khải” như những tôn giáo thờ thần. Đạo Phật phi-thần, có thể gọi nó là một phương pháp sống, tu tập và chiêm nghiệm cuộc sống để cuộc đời mình và tha nhân được tốt đẹp hơn. Một tín hữu công giáo khi sống một cuộc đời thánh thiện và hy sinh cho tha nhân, tín hữu đó vô hình chung cũng đã là một Phật tử trong bản chất mà không cần thiết phải biết niệm Phật hay tụng kinh gõ mõ hay đi chùa. Triết lý Phật giáo là triết lý về căn duyên của sự vật và ý niệm “Phật tính” để chỉ một mối tương quan tiềm tàng trong tất cả những gì hiện hữu và thể hiện đậm nét qua sự sống.
Một tín hữu công giáo vẫn có thể thờ cúng tổ tiên, nghiên cứu những triết lý kinh điển Phật để làm súc tích cuộc sống tâm linh đạo đức của mình. Ngôi Chùa hay Giáo Đường chẳng qua chỉ là những sinh hoạt xã hội bề ngoài-social activities. Điều quan trọng vẫn là cuộc sống và cách sống. Tôi biết anh em công giáo Việt nam thừa hiểu những điều này để cảm thấy rằng “Phật giáo” hay “Công giáo” chỉ là những danh từ như áo khoác ngoài, và sẽ không còn cần thiết đối với lớp trẻ lớn lên trong ánh sáng của khoa học trong thế kỷ 21.
Trang 24 -28 là những trang giá trị. Anh Báu là một tín hữu thành tín, can đảm nhìn nhận sự thật, và anh cũng thực tình mong muốn đạo Chúa được phát triển rộng rãi tại quê hương. Một điều tất cả ai cũng mong muốn đối với tôn giáo của mình.
Anh Báu cũng đã thành thật nhìn nhận như sau:
“Trong quá khứ, chắc chắn mình có chủ trương lấy danh Chúa để làm chiến tranh, dùng phương pháp dĩ độc trị độc, dùng bạo lực chống lại bạo lực, dùng chiến tranh chống lại chiến tranh, dùng hận thù chống lại hận thù, góp phần gây tang tóc cho quê hương đất nước.”
Trang 22, anh Báu viết về một vấn đề đen tối và sai lầm của Vatican, đó là việc cấm dân Việt nam thờ ông bà trong 2 thế kỷ. Tục lệ thờ phượng đối với ông bà là văn hóa của ta, bày tỏ thái độ uống nước nhớ nguồn và nhớ ơn công lao tiền nhân gây dựng đất nước, nhưng đã bị Vatican cấm đoán vì hiểu lầm. Anh Báu viết,
“Công bình mà nói, chính GiáoHộiLaMã...với bao nhiêu nước mắt và máu đào đã đổ ra, trong suốt 20 thế kỷ sống đạo và truyền đạo!”
Ngoài ra, anh Báu còn cho thấy anh có những tư tưởng chính trị độc lập và một tinh thần dân chủ, như trang 36 sang trang 37, anh viết,
“Hơn nữa, tôi không thể đòi hỏi dân chủ đa nguyên khi tôi không nhìn nhận cộng sản là một nguyên tố trong cộng đồng dân tộc! Tôi không thể đòi hỏi hủy bỏ đảng cộng sản, khi tôi chủ trương đa đảng! Tôi lấy tư cách gì để đòi chính quyền Hà Nội điều này điều nọ, nếu tôi không nhìn nhận chính quyền thực tế ấy!”
Một bài viết thành thật.
Nguyễn Tiến Cảnh:
Bài của anh NTC là một bài dài chứa đựng một số điểm son viết bởi một ngòi bút hòa nhã nhưng cũng không kém phần cứng rắn trong một tâm tình thành thực. Anh thẳng thắn trên hầu hết những gì anh viết và anh cũng “tố” giáo hội những cú nặng nề tuy không có tính cách lên án.
Hãy nghe anh Cảnh chê trách những tin tưởng hão huyền về vấn đề thiên đàng hỏa ngục trang 45,
“Có những giải lý tin mừng Phúc Âm quá ấu trĩ vẫn chưa được cải tiến như vấn đề thiên đàng hỏa ngục, hoặc áp dụng không đồng nhất như chuyện hôn nhân/ly dị”
Vấn đề thiên đàng hỏa ngục từ lâu đã trở thành chuyện hão huyền, ngoại trừ một thiểu số dân thất học và những bọn khủng bố cuồng tín thuộc đệ tam quốc gia như trong biến cố 11 tháng 9 vừa qua.
Một đoạn khác, hãy nghe anh tự nhận trách nhiệm về sự lợi dụng thế lực chính trị để truyền đạo và hưởng lợi. Trang 46, anh viết,
“Vì vậy ta phải thành thực nhận rằng Công giáo trong quá khứ đã dựa vào chính quyền để truyền đạo, được nhiều đặc quyền đặc lợi.”
Song song với những nhận lỗi, anh cũng biện hộ cho người công giáo, cho rằng họ đã không tiếp tay với thực dân để xâm chiếm nước ta và anh nêu ra một số lý luận để chứng tỏ là vua quan ta đã không thức thời và uyển chuyển đủ để mà làm ích quốc lợi dân. Theo tôi, vấn đề này phức tạp, tế nhị, gần như là đau xót như một vết thương làm mủ đối với người công giáo để có thể tranh cãi trong một bài điểm sách. Tôi cũng đã đọc một số sách viết về sự hợp tác giữa giáo dân công giáo và chính quyền Pháp thời Pháp thuộc. Về vấn đề này, tôi nghĩ anh Cảnh có thể tự nghiên cứu thêm để đi đến một kết luận thỏa đáng cho cá nhân anh. Tôi và anh có cùng chung một tổ tiên, nếu chúng ta dám đi tìm sự thật thì sự thật sẽ đến với chúng ta. Cái nhục hay cái vinh của tổ tiên đều là những bài học chung cho hậu thế. Đơn giản chỉ có thế. Và anh Cảnh không nên vì thế mà mặc cảm. Quá khứ đã qua. Và người hướng thượng là người biết nhìn về tương lai để mà đi tới.
Nói chung, bài của anh Cảnh là một bài có giá trị, và anh là một người tôi tạm xem là có đủ can đảm nhìn nhận sự thật.
Nguyễn Hữu Tấn-Đức:
Anh NHTD có một cái nhìn rộng rãi và chính xác về những vấn đề chính yếu của công giáo. Anh cũng đã cho thấy anh là một người sòng phẳng và biết ơn mảnh đất thứ 2 mà anh tạm trú. Anh cũng nêu ra được một điểm hay: điều mà anh gọi là thái độ kẻ cả và quan liêu của những kẻ khoác áo tu hành. Anh hiểu biết rộng rãi trong nhiều lãnh vực và đưa ra nhiều đề nghị hay, tôi hy vọng có thể đưa đến những cải tiến thật sự giữa những tôn giáo khác nhau.
Trang 64, anh viết,
“Làm sao hiểu biết nhau nếu không có những cuộc trao đổi, giao hảo ôn hòa mà thẳng thắn”, “Trên nguyên tắc, điều kiện tối thiểu của sự hợp tác giữa các tôn giáo chính là sự tôn trọng nhau trong sự chấp nhận những khác biệt của nhau”
Tôi đồng ý những điều này là những cần thiết tối thiểu để cho sự hợp tác và thân thiện giữa các tôn giáo được phát triển và vững mạnh chứ không phải chỉ qua loa giả tạo bề ngoài. Nhưng tôi cũng thành thực nghĩ rằng sẽ có những bất đồng ý kiến rất khó giải quyết và dung hòa. Con người có thể tạm đồng ý và sống chung với nhau trên nguyên tắc, nhưng theo như câu tục ngữ thông thường của Mỹ, “the devil is in the detail”, chính những chuyện lặt vặt cá nhân đôi khi lại là những mầm mống cản trở và gây phá hoại những công trình xây dựng lớn.
Bài của anh cho thấy anh có một tinh thần cởi mở và tích cực trong lối suy nghĩ. Độc giả như tôi học hỏi được nhiều sự kiện tôi không hề biết.
Nguyễn Tiến Ích:
Bài của anh NTI cho người đọc biết qua một số kỷ niệm cá nhân và sự liên hệ cũng như mối duyên giữa tôn giáo và cuộc đời của anh. Bài của anh có những giá trị đáng đọc. Trang 82, anh viết,
“có lẽ công giáo phải nhẹ về mặt truyền giáo, nặng về mặt xã hội”
Nhận định này thích hợp trong hoàn cảnh hiện đại. Con người sống trong thế kỷ 21 đòi hỏi những hành động xã hội tập thể chung để góp phần cải tiến môi trường và cộng đồng, trong khi đó việc truyền giáo và giảng đạo nên được hạn chế vì những việc làm từ thiện xã hội và cách ăn ở sẽ đưa đến sự cảm hóa người khác một cách hữu hiệu hơn là lời giảng xuông.
Tuy nhiên, có một số lý luận của anh Ích cho thấy anh là một tín đồ công giáo có một số suy nghĩ có thể bị hiểu là mê tín. Tôi xin phê bình:
Trang 80, anh bàn về vấn đề “sám hối” và anh trưng ra một bằng chứng về thành phố Sodome-Gomorrhe. Huyền thoại cựu ước kể rằng 2 thành phố này bị Thượng Đế dùng lửa thiêu cháy vì dân chúng quá tội lỗi sa đọa- và tuy đã được cảnh cáo trước về sự hủy diệt, tất cả đều cứng lòng, không ai chịu sám hối.
Anh Ích viết như sau,
“Tại sao phải sám hối? Đọc lịch sử kim(cổ), Đông sang Tây thì ta thấy ngay những tai họa mà nhân loại phải chịu phần lớn là do con người giáng xuống con người mà thôi.”
Đây là một lý luận phi lý, dễ gây hiểu lầm. Quả địa cầu trải qua bao nhiêu tỉ năm thành lập đã xẩy ra bao nhiêu thiên tai làm chết hàng triệu người, như núi lửa ở Pompeii ngày xưa hay như động đất ở Kobe Nhật bản gần đây. Lý luận như anh Ích, “những tai họa đó là do con người giáng xuống con người” là nghĩa thế nào? Những thiên tai xẩy ra không ngừng giết hại hàng trăm ngàn người trong nháy mắt, chẳng lẽ đó là những “hậu quả” con người phải gánh chịu vì tội lỗi của đồng loại họ đã làm?
Tôi nêu ra một thí dụ cụ thể: Nếu giả sử một thành phố ăn chơi như Las Vegas được địa chấn kế tiên đoán là sắp có một trận động đất, sau đó tất cả mọi người từ thị trưởng cho đến du khách đều vào nhà thờ (hay chùa) sám hối xưng tội, và nếu trận động đất không xẩy ra, có thể nào lý luận rằng tại vì Thượng Đế đã nghe lời sám hối chung cho nên Ngài tạm hoãn vụ động đất lại? Và nếu trận động đất vẫn xẩy ra như địa chấn học tiên đoán, có thể nào đổ lỗi rằng thành phố đó quá sức tội lỗi cho nên tất cả mọi sự sám hối cũng không đủ làm cho Chúa động lòng tha tội?
Một lập luận đi ra ngoài đề nữa là: anh Ích đã dùng một câu nhận định của bác học Einstein để nói về nhân vật Jesus (trang 80)
Einstein vốn là một người phi-tôn giáo và ông chỉ xem Jesus như một vĩ nhân có cá tính nổi bật không hơn không kém, vậy thì viện dẫn Jesus như anh Ích đã làm trong trường hợp này là sai.
Einstein không nhìn nhận Jesus như một đấng cứu thế có khả năng làm phép lạ như KiTô giáo vì ông là một khoa học gia và ông theo đạo Jews (lúc còn trẻ)
Câu phát biểu nổi tiếng của Einstein, “Science without religion is lame, religion without science is blind” đã bị anh Ích nhắc đến một cách sai văn cảnh. Chữ religion trong câu nói này để chỉ “lòng tin tưởng chắc chắn về tính chất hợp lý có thể hiểu được của vũ trụ bằng trí tuệ để từ đó con người có thể khám phá ra ý nghĩa của sự việc.” Phải hiểu câu nói đó theo tinh thần của Baruch Spinoza thì mới không oan cho Einstein.
Cùng một cuốn sách anh Ích đã dẫn chứng, chỉ cần lật thêm vài trang, người đọc có thể đọc được những câu Einstein phát biểu như,
“Dù sao đi nữa, tôi hết sức bất mãn khi thấy con cái tôi bị dạy những gì có tính cách phản khoa học” (trang 26 sang 27)
Trang 88, “Yếu tố đạo đức luân lý chỉ là những cách cư xử có tính cách thế tục của loài người, không dính dáng gì đến ý niệm Thượng Đế ”
Cho thấy tình thương và Thượng Đế không dính dáng gì đến nhau.
Trang 94 sang trang 95, Einstein đã phát biểu “Chính quan niệm về Thượng Đế có tính cách cá nhân đã là mầm mống tạo ra sự đối nghịch giữa khoa học và tôn giáo”
Ba phát biểu này cho thấy Einstein hoàn toàn chống tất cả mọi hình thức tôn giáo. Ông cũng đã có lần nói rằng những chuyện trong kinh thánh là những chuyện không thể nào tin là có thật. Ông cũng để ngoài tai luôn cả những triết lý tư tưởng đông phương (trang 236)
Ngày Einstein mất, theo như trong chúc thư ông đã dặn, xác của ông được hỏa táng và tro tàn được rải vào một con sông gần đó (tuy rằng luật DoThái giáo cấm đốt xác) Chỉ có những tâm hồn đạt lý như Einstein mới có một thái độ ung dung bình thản với cái chết như một nhà sư viên tịch như thế.
Tôi tiếc là anh Ích đã biết đến cuốn biên khảo giá trị ấy nhưng anh đã không đọc cuốn sách ấy một cách chính xác và nêu ví dụ một cách thành thực. Đây là một sự oan uổng cho một vĩ nhân.
Ngoài những điều đó, bài của anh Ích là một bài có giá trị, như những đoạn anh lý luận về ý nghĩa của chữ sám hối.
Phạm Hồng Lam:
Bài của anh PHL là một điểm son cho cuốn sách. Qua những gì anh viết, người đọc nhận thấy anh là một tín hữu công giáo can đảm. Anh biết nhìn nhận sự thật. Trang 98, 99 cho thấy anh tự đấm ngực hơi mạnh! Nhưng chính vì thế, anh tạo được sự tin tưởng nơi người đọc như tôi.
Anh Lam đã trình bày những sai lầm trầm trọng của giáo hội LaMã và anh cũng đã dùng ngòi bút để phân giải những ý nghĩa của sự cứu rỗi và vai trò của giáo hội. Tôi thích câu nói của anh,
“Những tấm áo sờn cũ của họ được con người trân trọng và ghi nhớ hơn nhiều tấm áo tím đỏ lượt là”
Những tấm áo cũ rách đó có ý nghĩa hơn tất cả những tấm áo đỏ và tím cùng những gót giầy sạch bóng của những “bề trên” không hề biết bụi bặm của một thế giới khốn khổ bên ngoài là gì.
Anh Lam còn có những nhận định khác có ý nghĩa như,
“Thêm nữa, khi tầm biết đạo nơi giáo dân lên cao, đạo sẽ bớt chất mê tín. Và như thế ta sẽ bớt cố chấp, bớt hiếu chiến, dễ bao dung và trưởng thành”
Theo tôi, đó là những suy nghĩ trưởng thành của một tín hữu công giáo.
Đoàn Thanh Liêm:
Bài của anh ĐTL tuy ngắn nhưng cũng là một điểm son và ngòi bút tự phê phán của anh cũng “mạnh tay”. Đọc những gì anh Liêm viết trang 107, 108, tôi nghĩ anh rất thẳng thắn trong việc phê bình bề trên Vatican của mình. Tôi thấy được sự can đảm ở câu anh viết,
“Cần phải vượt qua được cái não trạng đi chinh phục, đi mở mang nước Chúa”
Câu này chứng tỏ anh là một tín hữu công giáo với một tâm hồn cởi mở, thức thời, bình tâm và sáng suốt về giá trị và vai trò của tôn giáo trên thế giới. Anh là một tấm gương sáng cho tôn giáo nói chung và là một người cá nhân tôi cảm thấy kính mến qua những gì anh viết.
Một câu tự hối khác của anh Liêm,
“công khai nhìn nhận những sai trái của mình với anh em Do Thái, Tin lành, Hồi giáo, Phật giáo,v.v..trong bao thế kỷ mở mang nước Chúa”
Hai chữ “anh em” anh Liêm dùng trong câu trên rất có ý nghĩa. Nó cho thấy ở anh Liêm có một tấm lòng hòa đồng và thân thiện cũng như bình đẳng với những anh em khác tôn giáo. Anh Liêm không hề tỏ ra bất cứ một thái độ tự tôn hay tự ti về tôn giáo mình. Theo tôi, đó là một thái độ thăng bằng rất hiếm có.
Chủ quan, tôi thiết nghĩ chính những vị áo mũ đầy mầu sắc đỏ tím ngự trị trong tòa thánh Vatican (chứ không ai khác) phải học ở anh Liêm ở thái độ và lối suy nghĩ, và tôi cũng cảm thấy họ không đủ tư cách để làm bề trên của anh.
Và cá nhân tôi cũng cần học ở anh Liêm tinh thần hòa đồng bình đẳng của anh.
Vũ Đức Minh:
Anh này đề cập khá nhiều đến phạm vi khoa học, nhưng lập luận của anh cho thấy bài của anh thiếu những cởi mở thực sự, tuy rằng anh đã lập luận khá vững vàng và nêu ra được nhiều điểm hợp tình lý cũng như anh đã thẳng thắn đề cập đến hiện tình công giáo trên thế giới, kể cả những tội như xâm phạm tình dục trẻ con của những ông cha bất chính. (Vấn đề này là một vấn đề ô uế hết sức trầm trọng, hiện thời đang gây sóng gió trong Vatican vì nó cho thấy bản chất chuyên quyền và dối trá qua những bao che về tội ác của Vatican. Báo LA Times cho biết giáo hội LaMã đã phải chi ra hơn một tỉ đô la cho những tội ác xâm phạm trẻ con của hàng trăm cha xứ khắp nước Mỹ.)
Tuy nhiên, bài của anh đi ra ngoài 5 câu hỏi mà giáo sư Tri đã đề ra, và dường như anh dùng ngòi bút để viết ra những bất mãn một cách tiêu cực hơn là đóng góp một cách tích cực như sự kêu gọi của ông Tri. Tôi không ngạc nhiên với lời lẽ của anh, và vì thế, tôi muốn đưa ra một số phê bình.
Trang 127, sau khi đưa ra một số lập luận, anh viết, “Chúa tạo nên con người hoàn toàn tự do” nhưng ngay những dòng sau đó, anh viết ngược lại, “Tóm lại không phải chỉ có theo đạo này hay theo đạo khác mới được cứu rỗi”
Nếu chỉ đọc lướt qua, người đọc sẽ thấy ngôn từ của anh mang vẻ rộng lượng bao dung, nhưng nếu nghĩ lại sẽ thấy lấn cấn. Với những người Phật giáo vốn không tin vào một vũ trụ được sáng tạo do một đấng thần linh mà triết lý rằng sự việc trong vũ trụ đều do những duyên nghiệp tạo thành, thì quan niệm “cứu rỗi” hay “Chúa tạo nên con người” là một quan niệm không thích hợp.
Huyền thoại về một Jesus xuống thế gian lấy sự chết để cứu chuộc nhân loại chỉ được truyền bá và tin tưởng một cách hạn chế và càng ngày Jesus càng không còn được tin tưởng như là “con trai duy nhất của Chúa xuống thế hy sinh cho nhân loại” nữa. Đây chỉ là một trong những chiêu bài của KiTô giáo không hơn không kém (chữ chiêu bài không có dụng ý xấu-xin hiểu theo nghĩa: tool, thay vì propaganda)
Ngay cả như Do Thái giáo thờ cùng một Thượng Đế cũng không thừa nhận sự hiện hữu của Jesus như một đấng cứu thế, mà họ chỉ xem ông cùng lắm như một nhà cách mạng và đã bị chết vì lý do chính trị, và sự chết của ông được huyền thoại hóa và thổi phồng lên bởi những thế hệ kế tiếp để sử dụng vào những mục đích thế tục.
Anh Minh cũng đề cập đến sự tạo dựng nên vũ trụ mà anh lý luận là do một “Nguyên Lý tối thượng” hay một “đấng toàn năng” tạo nên và “xẩy ra vào một lúc nào đó”.
Viết như thế này là ngộ nhận rất trầm trọng về ngôn ngữ diễn đạt.
Khoa vũ trụ học cho thấy vũ trụ này xuất phát từ một diễn tiến lượng tử, diễn tiến này tự phát và làm nẩy sinh ra hiện tượng vật lý mà ta gọi là “không thời gian” Trong thời điểm hình thành, một tiến trình vật lý đã xẩy ra, và sau khi tiến trình ấy chấm dứt, những hạt vật chất và hạt phản vật chất triệt tiêu lẫn nhau và những hạt vật chất còn sót lại tạo nên vật chất trong vũ trụ. Nhà đại vật lý Nga Andrei Sakharov đã chứng minh được phản ứng vật lý này vào năm 1967. Xin anh đọc những sách nghiên cứu về galaxy formation, cosmogony, particle physics hiện đại.
Hơn nữa, vũ trụ của chúng ta có thể chỉ là một trong hàng muôn triệu vũ trụ với những chiều kích khác nhau và những định luật vật lý khác nhau. Trong những khoảng chân không, vật lý lượng tử cũng cho thấy rằng những hạt điện tử/dương điện tử luôn luôn xuất hiện thành cặp không ngừng, và sự “xuất phát” của chúng hoàn toàn nằm ngoài những quy chế của định luật vật lý. Vũ trụ chúng ta tự phát khởi như những cặp điện tử không ngừng xuất hiện đó-spontaneous appearances.
Vật lý gia Brandon Carter đưa ra nguyên lý nhân chủng để nhằm mang ý nghĩa của con người và ý nghĩa của consciousness/tâm thức vào trong một vũ trụ vô định nhưng đó cũng chỉ là một một giả định bị phần lớn khoa học gia bác bỏ. Triết gia John Leslie trong tác phẩm lý luận nặng nề Universes, đã dùng “ethical requirement” như một “nguyên lý sáng tạo” nhưng điều đó chỉ là những quan niệm triết lý bị xem là vô nghĩa.
Tôi xin nhắc đến một câu nói của Paul Davies, một vật lý gia. Ông quan niệm, “Khoa học làm cho tôn giáo trở thành không cần thiết”
Câu nói của ông không nên bị xem là quá khích nếu ta hiểu ý ông chỉ muốn nói rằng con người sẽ nắm được bản chất của Thượng Đế/thiên nhiên rõ ràng hơn qua những khám phá khoa học thay vì những tín lý thiếu khoa học.
Vậy thì điều mà ta gọi là “nguyên lý tối thượng” hay một “đấng toàn năng” nào đã tạo ra vũ trụ và con người là chuyện khó có thể là sự thật. Thật khó mà tưởng tượng rằng một đấng siêu hình hiện hữu mãi mãi từ vô thủy vô chung cho đến hiện đại, chợt “một lúc nào đó” không có việc gì làm cho nên nổi hứng tạo ra vũ trụ. Xin thành thực hỏi anh Minh rằng liệu trí tuệ con người trong thế kỷ 21 cho phép chúng ta tin tưởng mãi vào những “huyền thoại sáng tạo” như thế hay không?
Vũ trụ là một hệ thống vật lý tự biến đổi, nó tự sinh và tự diệt. Một hệ thống vật lý hiện thực không thể nào nẩy sinh và bắt đầu từ một ý nghĩ hay một thiên lệnh. Những huyền thoại sáng tạo cổ xưa đã không còn chỗ đứng trong thế giới hiện đại.
Ngoài tín lý KiTô, có biết bao nhiêu triết gia và thần học gia đã tranh cãi hàng bao thế kỷ về vấn đề xuất phát của vũ trụ này, nhưng chỉ đến thế kỷ 20 thì cán cân mới nghiêng về một vũ trụ vô thường như triết lý “vạn pháp trùng trùng duyên khởi” của Phật giáo đã nhìn thấy 25 thế kỷ trước.
Nền khoa học tiên định-deterministic- của Newton, Laplace, Maxwell, đã bị thay thế bằng một hệ thống tri thức luận mới, đặt nền tảng trên nguyên lý bất định vô thường-indeterministic- của vật lý nguyên lượng.
Ý nghĩa causality-tác nhân/tác động- đã không còn là một đòi hỏi cần thiết cho sự hiện hữu của vũ trụ. Ý tôi muốn nói rằng khoa học đưa con người đến một nhận thức mới về bản chất bất định của vũ trụ, hoàn toàn không có tính chất teleology-mục đích cuối hay purpose-mục tiêu. Những suy nghĩ đó có phần nào phù hợp với những suy nghĩ siêu hình của triết lý Đông phương, nhất là những quan niệm về Đạo của Lão tử, và trái ngược với ý niệm đấng tạo hóa như một yếu tố khởi đầu.
Bertrand Russell, triết gia lớn cận đại, đã nói ngắn gọn về ý niệm “Thượng Đế như một tác giả sáng tác ra vũ trụ” như sau,
“The law of causality…… ...is a relic of a bygone era./ Luật về tác nhân/tác động chỉ còn là một tàn tích của một thời đại đã qua”
(Causality là một quan niệm và suy nghĩ cổ điển. Đơn giản, nó có nghĩa là một vật hiện hữu đòi hỏi phải có lý do tại sao nó hiện hữu, ai “tạo ra” nó. Một sự việc xẩy ra đòi hỏi tại sao nó xẩy ra, những yếu tố gì làm nó xẩy ra, tương tự như câu chuyện về chiếc đồng hồ trong sa mạc của thần học gia Paley. Khoa học lượng tử và thuyết tiến hóa đã cho thấy causality là một quan niệm không còn cần thiết cho sự vật và sự sống. Cũng xin đừng lẫn lộn causality với ý niệm triết lý nhân quả mặc dầu có vẻ giống nhau.)
Điều đáng tiếc và thiệt thòi nhất, theo tôi, là vẫn có quá nhiều tín hữu công giáo Việt nam cho đến giờ này vẫn cho rằng Thượng Đế là đấng toàn năng có khả năng “can thiệp” và xen vào nội bộ của chúng ta và làm phép lạ trong những trường hợp “khẩn cấp” làm như không có phép lạ thì không xong. Đây là một tin tưởng phản khoa học cần nên duyệt xét lại trong thời điểm này.
Hãy đọc qua lời anh viết, trang 121,
“...chỉ khi nào cần kíp Chúa mới làm những việc lạ lùng để cứu giúp chúng ta trong cơn nguy cấp.”
Người viết đã không có một nhận thức trưởng thành về ý niệm Chúa qua nhận định này. Xin anh đơn cử một vài ví dụ trong trường hợp nào mà anh cho là “việc lạ lùng”?
Tôi xin hỏi: Đối với Thượng Đế, thế nào là cần kíp? Nếu Chúalà đấng “toàn năng” đã “biết trước mọi sự” thì tại sao lại có vấn đề “cần kíp” đối với Chúa? Chữ cần kíp nói lên tình trạng khẩn trương và bất thình lình của một vấn đề, nhưng nếu Chúa đã an bài, xếp đặt, tiên liệu trước mọi sự thì “cần kíp” là thế nào? Biến cố khủng bố September 11 giết chết hàng ngàn người vô tội có là “cần kíp đối với Chúa” hay không? Vụ diệt chủng 6 triệu dân Do Thái trong thế chiến thứ 2 có là chuyện cần kíp hay không?
Một chỗ khác, anh viết một cách tự mãn,
“Tại Phi châu, nơi được coi như xứ sở của mọi rợ, nơi mà cách đây hai thế kỷ ánh sáng Phúc Âm còn leo lét, ở cuối thế kỷ 20 đã mọc lên ngôi giáo đường vĩ đại nhất hoàn cầu” trang 132.
Đây là một câu nói hớ, cho thấy sự hãnh diện bề ngoài về sự bành trướng tôn giáo của anh chứ không có gì lạ. Tiếc thay, anh Minh đã để lộ đầu óc thực dân, phản ảnh một “não trạng mở mang nước Chúa” như anh Đoàn Thanh Liêm đã phản đối trong cuốn này. Chỉ một câu này đủ cho thấy tâm anh còn bị quá nhiều vướng mắc với những hình ảnh giáo đường lộng lẫy nguy nga ngự trị trên những mảnh đất nghèo đói khốn khổ. Những giáo đường “to lớn huy hoàng ngà ngọc đắt tiền” như thế tôi thấy rất khó mà đứng chung với một Jesus sinh ra trong một máng cỏ nghèo hèn và sống một cuộc đời không có chỗ gối đầu hay một chỗ trú ẩn.
Tôi tiếc cho một tín hữu công giáo với lối suy nghĩ mê tín như anh.
Anh viết thêm,
“Dù khoa học tiến đến mức độ nào thì cũng không ra ngoài sự an bài và quyền năng của Chúa” trang 132.
Viết như thế này phản ảnh một đầu óc suy nghĩ thời trung cổ.
Chính vì nhân loại hiểu ra được sự tàn phá vô tình của Chúa/thiên nhiên nên nhân loại mới tìm cách đề phòng bão lụt, núi lửa, động đất, cùng những thiên tai khác và bệnh tật, gọi chung là “Acts of God” Những trận động đất, những trận đại cuồng phong lụt lội, những nạn dịch kinh khủng thời trung cổ, cho phép ta suy ra rằng Chúa không từ và không nhường ai. Từ thượng cổ cho đến hiện đại, hàng triệu, tỷ người đã mất mạng vì thiên tai, nhưng có biết bao nhiêu người cũng đã thoát hiểm vì bàn tay cứu vớt của con người, của phát minh khoa học? Nếu mọi sự sống chết tàn phá hủy hoại đã nằm trong “chương trình” của Chúa, vậy thì con người sẽ còn giá trị quyết định nào trong việc sống còn hay không? Nếu Chúa đã “an bài và hoạch định” mọi chuyện, nhưng thỉnh thoảng Chúa cũng “phá lệ và thay đổi chương trình” chung quy chỉ vì “cần kíp” thì Chúa đó là Chúa nào? Lối lý luận này làm mất giá trị sinh tồn con người và làm cho tôi có cảm tưởng ông Chúa mà anh đang thờ phượng là một ông Chúa thích “thọc gậy bánh xe”. Tôi nói thẳng: người công giáo như anh cần nên thay đổi lối suy nghĩ mê tín này càng sớm càng tốt để mà tồn tại.
Về thuyết sáng tạo, những khám phá về vũ trụ học, về sự hiện hữu của không thời gian và vật chất đã được chứng minh qua công trình của bao nhiêu vật lý gia, ngoài ra, thuyết tiến hóa cũng đã được chứng minh là sự thật. Như thế, sự hiện hữu của vũ trụ này và sự xuất hiện của sự sống đã cho thấy ý niệm “Thượng Đế là tạo hóa” là thừa. Khoa học đã thay thế và đảm nhận vai trò đó của Thượng Đế.
Nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là khoa học phủ nhận ý nghĩa của Thượng Đế. Thượng Đế, theo Einstein, là những định luật vật lý tác động lẫn nhau đưa đến những chuyển dịch tự nhiên trong cõi vô thường. Với thời gian, những yếu tố vô hình và vô tình của thiên nhiên đưa đến những sự hữu hình và hữu tình nơi con người.
Tôi muốn nhấn mạnh đến một quan niệm tôi vẫn thường suy nghĩ, đó là “vũ trụ vô tình tiến hóa đến Thượng đế” thay vì “ vũ trụ biến hóa từ Thượng đế.” Chỉ khi nào ta nhìn nhận những khám phá khoa học song song với niềm tin thì đức tin mới giá trị.
Một vấn đề khác: Cũng giống như anh Nguyễn Đức Tuyên, anh Minh cho là một số người Việt Nam khác đạo đã “đánh phá” công giáo qua những tác phẩm chống công giáo gần đây. Điều này có lẽ là một sự thực. Tuy nhiên, với tư cách một người phê bình, tôi nhận thấy rất ít người công giáo Việt Nam có được tinh thần hoài nghi trên lãnh vực tôn giáo, đó là việc tìm hiểu và nghiên cứu những tín lý mình đang tin, những gì mình được giảng dạy, và tìm hiểu một cách vô tư như một học giả đi tìm sự thật. Đối với đại đa số người công giáo, những “tin điều màu nhiệm” như Chúa Ba Ngôi, Chúa sống lại, Chúa lên trời hay Đức mẹ linh hồn và xác lên trời, luôn luôn là những chân lý bất khả xâm phạm và phải bảo vệ bằng tất cả mọi giá, kể cả tính mạng. Những điều này, theo tôi biết, càng ngày càng được ánh sáng khoa học rọi chiếu và càng ngày càng trở nên khó tin đối với những người không công giáo. Như thế, có thể nào kết luận rằng công giáo có những tín điều không thể nào giải quyết dung hòa, và như thế, chuyện tôn giáo đề huề chỉ là chuyện có trong mơ tưởng? Làm sao để đức tin không trở thành mê tín của giáo điều? Làm sao người công giáo có đủ sự vô tư cần thiết đó.
Tôi nhận định: trên một vài phương diện, anh là một tín hữu công giáo nặng hình thức, nhiều phô trương, kèm theo một thái độ tự tôn ngầm. Lối viết phản ảnh một niềm tin thiếu ánh sáng của lý trí. Nhưng xen vào đó, bài của anh có những điều phản ảnh sự thật, điều đó làm cho bài của anh là một bài đáng đọc.
Nguyễn Đức Tuyên:
Bài của anh Tuyên là một bài có giá trị và là một điểm son cho cuốn sách. Anh Tuyên thành thật, thẳng thắn trên ngòi bút về những vấn đề hệ trọng nhất của giáo hội. Anh khen nhưng không tự tôn, anh chê nhưng không tự ti. Tôi nhìn nhận những gì anh nói phản ảnh được sự thật.
Hãy đọc một câu ngắn của anh Tuyên trang 196,
“Công đoàn nào cũng có quyền hãnh diện về mình, nhưng coi thường người khác, cộng đoàn khác, tôn giáo khác, không biết chân nhận những ưu điểm và tinh hoa của anh chị em khác là một sự tự tôn sai lầm, cần dứt khoát cởi bỏ.”
Đây là một lời nhắn nhủ ngay thẳng dứt khoát hiếm có của một tín hữu công giáo.
Ngoài ra, cũng như anh Liêm, tôi quý cách anh Tuyên gọi người khác là “anh chị em”, đây là một lối gọi thân mật, hòa nhã, kính nhường trong ngòi bút và nó gây ra rất nhiều tác động tâm lý cởi mở cho người đọc.
Một câu khác anh Tuyên đánh giá về một lối tự xưng danh mà anh cảm thấy chướng, “Tự gọi mình là đức ông là một cách xưng hô không có trong văn phạm việt nam. Sự kính trọng thiên chức linh mục không nằm trong ngôn từ, nó xuất phát từ tư cách và đạo đức của người linh mục.”
Nói thẳng như anh như vậy là “thẳng thừng” và có thể làm một số “đức ông” nhíu mày khó chịu. Nhưng người đọc phục anh ở chỗ dám nói thẳng đó.
Trang 201, anh Tuyên cũng phàn nàn về những đụng chạm và rạn nứt tôn giáo giữa công giáo và những phần tử mà anh cho là núp bóng Phật giáo. Anh đề cập đến một số sách đã được viết ra để đánh phá công giáo một cách tàn bạo mang mầu sắc Phật giáo trong những năm gần đây. Theo anh, đây là một điểm khó khăn, tuy không có gì trầm trọng, vì có lẽ đó chỉ là hành động của một thiểu số thích gây hấn.
Theo tôi biết, có một số sách viết ra bởi chính những tác giả không còn là công giáo, như bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, giáo sư Lê Tôn Nghiêm, gần đây như anh Charlie Nguyễn, và rất nhiều sách trên thế giới viết bởi những học giả am tường về lịch sử tôn giáo. Họ là những người đã khám phá ra những sự thật cay đắng nằm ẩn khuất sau những huyền thoại, vậy thì không thể nào xem những người này là “những phần tử núp bóng Phật giáo” được. Theo tôi, phải xem họ là những tác giả vô tư nhưng có tinh thần trách nhiệm, dùng sách để cảnh tỉnh đám đông về huyễn tượng tôn giáo.
Để anh Tuyên hay anh Vũ Đức Minh có thể có một nhận định chính xác hơn về những sản phẩm mà hai anh có lẽ sẽ quy tội là “đánh phá KiTô giáo”, tôi xin nêu ra một số tên tác giả ngoại quốc và tác phẩm của họ để anh và bạn đọc tham khảo:
-G.A. Wells (Did Jesus exist? The historical evidence for Jesus)
-Joel Carmichael (The unriddling of Christian origins)
-Edmund D. Cohen (The mind of the bible-believer)
-Jim Herrick (Against the faith)
-Skipp Porteous (Jesus doesn’t live here anymore)
-Randel Helms (Gospel fictions)
-William Henry Burr (Self-contradictions of the bible)
-R. Joseph Hoffman (Jesus outside the gospels, Jesus in history and myth, the origins of Christianity)
-Gerd Ludermann (The Great deception)
-Chester Dolan (Blind faith)
-John Allegro (The deadsea scrolls and the Christian myth)
-William Harwood (Mythology’s last Gods)
-Norman Weeks (The test of Love)
-Robert Price (Deconstructing Jesus)
-Phillip Jenkins (Hidden Gospels-How the search for Jesus lost its way)
-C. Dennis McKinsey (Biblical errancy, The encyclopedia of Biblical errancy) Hai trước tác vĩ đại dầy hơn 1350 trang của một sử gia biên khảo.
_Kenneth Davis (Don’t know much about the Bible)
_Robert Pennock (The tower of Babel) tranh luận với những kẻ chống thuyết tiến hóa.
_Massimo Pigliucci (Tales of the rational)
Và nhiều tác phẩm tương tự của những học giả khác, kể cả Clarence Darrow, là một luật sư Mỹ nổi tiếng trong vụ án về thuyết tiến hóa (Monkey trial)
Có thể nào lên án những tác giả này là những người “thù ghét” KiTô giáo đến độ họ phải viết sách để nhục mạ, đánh phá văn hóa tôn giáo của chính họ?
Và, nếu quả thật có sự bất đồng ý kiến như vậy, tôi xin muốn góp ý rằng nếu những gì mà anh em cho là hành động đánh phá, tại sao ta lại không tạo ra những “ủy ban” để tìm thực hư? fact finding committee?
Tại sao giữa những tôn giáo, người Việt chúng lại không thể thành lập một “ủy ban điều tra” để cùng ngồi lại với nhau, để cùng tìm hiểu nghiên cứu sự thật như những sử gia chân chính?
Tất cả chúng ta ai cũng tôn trọng sự thật, vậy thì theo tôi, đây là một điều nên làm trong thời buổi khoa học và tôn giáo đề huề này. Chính ông Tri đã viết trong trang 185 về vấn đề Phật giáo/Công giáo như sau,
“Muốn giải tỏa, phải tôn trọng sự thật và cùng nhau đi tìm sự thật...Gặp gỡ trên bình diện tôn giáo không thể nhạt nhẽo.”
“Không thể nhạt nhẽo” Tôi đồng ý hoàn toàn. Tôi cũng hoàn toàn phản đối lối đối thoại tôn giáo có tính cách “thù tạc” và “ngoại giao”
Như vậy, có những tín lý và nghi vấn lịch sử chúng ta phải đặt vấn đề như thế nào? Tiếp tục xem đó là sự thật? Làm sao để biết đó là sự thật? Thế nào là sự thật? Đặt vấn đề hay tiếp tục lặng thinh một cách khó hiểu chỉ vì nó thuộc về tôn giáo của ta và những gì của ta lúc nào cũng là đúng là phải?
Đó là chỉ mới nói sơ qua giữa Công giáo và Phật giáo, giả sử sau này Do Thái giáo, KiTô giáo, Hồi giáo ngồi lại với nhau để tìm hiểu sự thật, thì những nghi vấn lớn như Jesus giải quyết ra sao? Sự hiện hữu của Jesus sẽ được mang ra bàn cãi làm sao? Có hay không có Jesus? Có là có thế nào? Một đằng nói có, một đằng nói không, giải quyết bằng cách nào? Và có cần giải quyết hay không?
Nếu ông Tri đã thẳng thắn tuyên bố trong cuốn này “tôn trọng sự thật và cùng nhau đi tìm sự thật”, thì Anh Tuyên và tôi và các anh em khác sẽ “đi tìm sự thật” ra sao?
Bài của anh Tuyên, tuy nhiên, là một bài có giá trị và anh là một người đáng kính mến.
Đỗ Mạnh Tri:
Đọc bài của ông Tri, một bài nặng ký và “đáng đồng tiền bát gạo”. Đáng đồng tiền không phải ở chỗ nó có những giá trị như bài của anh Đoàn Thanh Liêm, Phạm Hồng Lam hay Nguyễn Tiến Cảnh. Bài ông Tri có nhiều điểm hay, một số điểm cần được đặt dấu hỏi, có cởi mở và khép kín, có những chỗ sáng sủa và chỗ âm u, nhưng giá trị ở chỗ nó đã được viết bằng một kỹ thuật viết tinh vi của một người chuyên nghiệp về lý giải đức tin và đồng thời nó cũng là một bài thuyết pháp tài tình về ý nghĩa của tự do và tình yêu nhìn qua cặp mắt của một giáo dân.
(Thú thật tôi đã đọc kỹ bài của ông khoảng 5 lần trong vòng hai tháng và càng đọc càng thấy thú vị về sự uyên bác của ông trên nhiều lãnh vực.)
Là một tín đồ công giáo trung kiên, là một giáo sư và một bậc trọng tuổi thì đọc những gì ông viết tôi không lấy làm lạ mà còn thấy công việc của ông là một chuyện tự nhiên và cần thiết của một tín đồ đang tìm cách hồi sinh cho Vatican bằng một thứ thuốc đắng: đó là ngôn ngữ của sự thật. Trên phương diện này, ông Tri một giáo dân thành thực và can đảm.
Với kiến thức thần học súc tích và tài diễn giải, người đọc được thưởng thức tài lý luận và chủ đích của ông. Ông Tri không những cùng một lúc sửa sai cho cho một giáo hội Vatican cổ lỗ như một con tàu mục sắp đắm, mà còn tái xác định lại cho giáo hội một giá trị và một thế đứng mới trong một thế giới đa diện càng ngày càng điên đảo phức tạp. Ông cũng tránh né không đề cập những điểm bất khả tín của KiTô giáo, nhưng thông tin của ông nhấn mạnh vào ý nghĩa và giá trị của đức tin, tin mừng, và những vấn đề khúc mắc trong Phúc Âm để người đọc có thể tự suy nghĩ. Ông giải thích được nhiều vấn đề cốt lõi. Đọc bài của ông, người ta có thể thấy ra được những vấn đề nền tảng làm trọng tâm cho thế giới KiTô giáo. Nó là một synopsis-tổng hợp vắn tắt chính xác và giá trị.
Người đọc khó có thể chỉ đọc một lần những gì ông trình bày, và có thể nói: bài của ông là một bài viết dành cho chính giáo hội Vatican đọc.
Ông Tri có khả năng tài tình trong thuật dụng ngữ, vì thế, sự diễn giảng vấn đề của ông rất trôi chảy. Ông phân biện như một chuyên gia thần học kiêm chính trị học đã thành thạo với những điển tích cũ quen thuộc trong kinh thánh. Ngôn từ bề ngoài của ông nhã nhặn, từ tốn, biết người biết ta, và kiến thức cũng như tài lý giải khúc chiết những chuyện vô lý trong kinh thánh của ông là một điều đáng phục. Nhưng ẩn ẩn hiện hiện sau những lời lẽ nhã nhặn ấy là một lòng tin cứng rắn, thành tín nhưng không kém phần bảo thủ. Trong bài của ông, người đọc cũng thấy ông dường như có những tâm sự nhuốm buồn kèm theo những nỗi lo âu cho một thế giới đổi mới quá nhanh.
Trang 172, ông thở than,
“Chợ trời tôn giáo hiện tại cho ta thấy con người thời đại muốn làm gì với đời mình, nhưng không biết làm gì”, “Chân Thiện Mỹ là cái gì khi bất cứ cái gì hôm nay cũng bị xem là tương đối” và ông tự đặt câu hỏi, “Đâu là cốt lõi của Đạo? Nói rộng ra, không một tôn giáo nào tránh được câu hỏi đó. Cốt lõi Phật giáo, An giáo, Hồi giáo, vv...ở chỗ nào?”
Lời than thở của ông Tri làm tôi nhớ lúc còn bé đọc chuyện Diogenes của HyLạp. Ông này cũng đã than thở khi ông xách đèn đi “tìm người” giữa chợ đời ban ngày. Con người thời nào thì cũng hỉ nộ ái ố tham sân si chừng nấy. Trong xã hội hiện đại, quá khứ, hay tương lai, hay ngày nào trái đất còn có giống sinh vật gọi là người, thì “God speaks but money rules/Chúa phán nhưng tiền cai trị” hay “God makes the laws, man interpretes the laws/Chúa làm luật, nhưng con người giải thích luật”
Nếu nền thần học cũng như huyền thoại tây phương, khởi đầu từ cổ Hy Lạp, đã tạo ra ý niệm Thượng Đế, là những suy tưởng siêu hình để trả lời cho những nghi vấn như sáng tạo, hiện hữu, và những ý niệm tình thương, cứu rỗi, phản ảnh tâm thức và triết lý “từ trên xuống dưới, từ trời xuống đất” của tây phương thì bên trời đông, triết lý Đông phương cũng đã có những nhân vật như Lão Tử, Phật nêu ra ý niệm “con người và thiên nhiên là một sự hòa đồng”
Sự hòa đồng với thiên nhiên và sự giác ngộ cũng như triết lý vô ngã như một cứu cánh làm ý nghĩa cho tâm thức con người đông phương là nền tảng triết lý và nhân sinh quan lớn của Á đông. Còn ai nhìn ra sự vận hành của thiên nhiên thâm sâu hơn Lão Tử với quan niệm Đạo? Còn ai nhìn ra tính chất vô thường của sự vật và giá trị của sự sống hơn Đức Phật? Nếu Thiên Chúa là tình thương theo quan niệm Tây phương thì triết lý Phật giáo cũng đã cho thấy sự sống chính là thể hiện của những chân lý hằng hữu trong vũ trụ.
Tất cả những nỗ lực triết lý vĩ đại của con người trong 5 ngàn năm nay để làm gì? Để đi tìm “lối thoát” cho nghi vấn vô nghĩa “tại sao tôi hiện hữu?” của nhân sinh trong một vũ trụ vô thường và bất định. Sự nẩy nở và phát triển của tôn giáo, trong đó có niềm tin, có mê tín, cuồng tín, đều là những phản ảnh và hậu quả phức tạp của môi trường sống và sự vô minh nói chung của trí tuệ đang hình thành của giống người.
Với ông Tri, tuy không nói ra, tôi thấy có lẽ ông cũng biết rõ từ lâu cuốn kinh thánh không là một sự thật, mà chỉ là một tập hợp hư cấu những chuyện cổ tích về huyền thoại sáng tạo dựa theo những sự kiện lịch sử góp nhặt qua nhiều thời kỳ. Vì khó khăn này, ông Tri chỉ có thể và chỉ dám nhắc đến một vài điển tích rất giới hạn chung quanh một vài câu đối thoại và trả lời của Jesus để mà triết giảng bằng ngôn ngữ và suy luận của ông. Ông Tri hoàn toàn tránh né đến vấn đề thực hư của những câu chuyện ngụ ngôn đó. (Xem trang 190, 191)
Điều quan trọng đối với ông Tri là câu hỏi: từ kinh thánh, người đọc đã lọc ra và học được những gì làm căn bản cho phẩm giá của con người? Những câu chuyện đó đã tác động được gì đến tâm hồn và cuộc sống của mỗi cá nhân khi đọc sách Phúc âm?
Người đọc kinh thánh, sau khi đọc về một câu nói hay việc làm của Jesus trong tân ước, nếu cảm thấy hành động của Jesus là một bài học xử thế là đủ, hà tất phải quan trọng hóa câu hỏi “Đã có hay không có một Jesus?” hay tự hỏi “Câu chuyện đó thật hay giả?” cũng như những nghi vấn ta vẫn thường tự hỏi, “Đã có hay không có một Lão Tử, một Hồ Xuân Hương, một Trạng Quỳnh?” Những câu hỏi đó thường chỉ để dành cho những chuyên gia nghiên cứu sử, không hẳn đã là quan trọng cho số đông tín đồ hay người đọc sách.
Một đám trẻ con (trong đó có tôi) có thể trầm trồ ngạc nhiên thích thú khi nghe một linh mục kể sự tích Jesus làm “phép lạ” đuổi quỷ dữ ra khỏi người điên, hóa phép làm người chết sống lại, biến nước thành rượu, quở mắng cây vả, đi bộ trên mặt biển, biến không khí thành bánh mì và cá, và tự động sống lại sau 3 ngày chết chôn trong mộ. Dĩ nhiên, với ánh sáng khoa học và sự trưởng thành của trí tuệ, chúng ta không còn cần phải nhờ cậy vào những “phép lạ” ấy nữa, mà còn thấy rõ rằng việc sử dụng phép lạ như một phương tiện để rao giảng “quyền năng” của Chúa như thế là những câu chuyện ngụy tạo.
Không thấy Thượng Đế ở đâu à? Hãy nhìn con người đồng loại, sẽ thấy Thượng Đế, đây là câu nói giá trị nhất của ông Tri và là sứ điệp chính của Jesus. Muốn “thấy được” con người đồng loại, không thể chỉ nhìn thấy bằng cặp mắt, mà phải bằng một tâm hồn, một trái tim vị tha đến mức cao độ. Cái “thấy” của những bậc vĩ nhân lớn và xa lắm. Nhưng chỉ có tình yêu và tự do mới cho phép chúng ta nhận thức được cái “thấy” đó. Đây là một câu nói giá trị đáng học hỏi từ suy luận của ông Tri.
Bàn về cái thấy, tôi xin kể lại câu chuyện trong kinh thánh tân ước mà tôi thích: Một phụ nữ phạm tội ngoại tình sắp bị đám đông ném đá, và Jesus bị nhóm người ô hợp này thách thức ông về cách xử trí trong vai một quan tòa. Với một đám đông cố tình bắt bí ông, và trong tay ông là mạng sống của một người phụ nữ, Jesus đã bình tĩnh nói, “Ai trong các ngươi cảm thấy mình vô tội thì hãy ném đá người đàn bà này trước đi”
Đây là một câu nói có một giá trị cao vượt thời gian và không gian. Hãy khoan nói đến vấn đề thật hay giả của câu chuyện. Điều mà người đọc có thể suy ra được ở đây là cái tiếng tăm của cá nhân Jesus . Đám đông đang hò hét có sá gì đến câu trả lời của Jesus trong lúc đó, nhưng khuôn mặt, cái liếc mắt, thái độ của câu nói, và nhất là đời sống trong sạch của Jesus đã làm cho những kẻ lên án đột nhiên tự cảm thấy hổ thẹn về hành động giả hình và côn đồ của họ. Nếu trong quá khứ Jesus cũng chỉ là một trong những tên du thủ du thực như những kẻ xúi dục thì có lẽ ông đã bị cười chế nhạo hay chính ông cũng đã bị ném mấy hòn đá ngay, nhưng con người Jesus cộng thêm câu trả lời sắc bén đã làm thức tỉnh cái đạo đức hiếm có còn sót lại trong một tập thể ô hợp và làm cho họ cảm thấy tự hổ thẹn như đang nhìn vào một tấm gương phản ảnh sự bẩn thỉu của cái tâm bất chính.
Jesus đã “nhìn ra” được những nét nghi ngờ ẩn hiện sau những khuôn mặt đầy thách thức trong một đám đông hỗn tạp. Khi nói ra câu nói đó, Jesus đã đo lường trước được sự việc và “thấy” được tâm can con người, vì khả năng “thấy” của ông cao hơn cái “thấy” thông thường của một người bình thường.
Người đàn bà ngoại tình ấy sống sót không hẳn vì lời nói của Jesus trong lúc đó, mà chính vì tư cách và cuộc đời của Jesus đã làm cho câu nói của ông có trọng lượng, và nhờ đó tác động và khơi dậy được một ít giá trị đạo đức nằm sâu trong tâm những kẻ gây hấn và xúi xiểm.
Kinh thánh là một sản phẩm tưởng tượng được viết trong nhiều thời kỳ kéo dài khác nhau, điều này ai cũng đã biết. Cũng như những bộ truyện lịch sử kiếm hiệp của Tầu như Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, vv, trong đó hầu hết là hư cấu, kinh thánh là một cuốn sách đòi hỏi người đọc phải tìm hiểu nghĩa “ẩn dụ-metaphor” của câu chuyện. Người đọc có thể suy ra được những bài học triết lý, rút tỉa ra để mà suy ngẫm những giá trị thực tế trong cách ứng xử. Đó là chủ đích của ông Tri. Cũng như chuyện tiếu lâm khôi hài được kể ra để mua lấy nụ cười vì tính chất tếu của nó, còn thật hay giả thì đó không là vấn đề (Không ai nghe kể chuyện cười mà lý luận “Xin cho tôi biết chuyện tiếu lâm đó có thật hay bịa đặt để tôi có thể cười hay không”)
Ông Tri đã có khả năng đãi cát ra vàng, lọc ra được cái “giá trị” trong một câu chuyện giả, nắm bắt được cái “ý nghĩa” trong câu chuyện vô lý. Ông là người có khả năng thấu nhận cao và giải lý một cách khéo léo những chuyện ngược đời, những chuyện đi ngược luân thường đạo lý Á đông. Bài thuyết pháp của ông đã hóa giải và tháo gỡ được một số định kiến và những “khung cố chấp” thô thiển về chữ nghĩa đã làm cho con người ngộ nhận lẫn nhau. Trình độ nhận thức về triết lý tin mừng của ông cao độ và tâm ông nói lên sự trung kiên, nhẫn nại và hiền hòa, là những đức tính làm nền tảng cho con người.
Tuy vậy, những gì ông Tri không có, là những gì ông không thể có, và điều đó không là một điều đáng phàn nàn hay cần phải chỉ trích, tuy cần được tìm hiểu. Viết về ông đối với tôi thú vị ở chỗ đó. Thú vị vì ông “ảo ảo thực thực” trong lối suy nghĩ. Thú vị vì ông bị dằng co nửa trong nửa ngoài về nhiều vấn đề triết lý phức tạp.
Tôi không dám tự hào là tôi hiểu ông hay tôi hiểu KiTô giáo như ông đã hiểu, nhưng những gì ông viết cho phép tôi hiểu về ông như thế, và tôi có thể hiểu sai. Nhưng mong rằng giữa tôi và ông, người đọc và người viết, sẽ chỉ có thông cảm mà không có ngộ nhận.
Riêng có một đôi điều tôi cần đặt vấn đề vì nó là những điểm làm tôi nghĩ ngợi và thắc mắc. Đọc một số ý kiến ở những dòng đầu trang 174, ông đặt câu hỏi, “nhưng tiến hay lùi? Với những người không có xác tín thì thế nào cũng xong.” Đây là một nhận định lẽ ra cần được ông xác định rõ ràng hơn.
Tôi thấy thật là khó xác định “tiến hay lùi” khi áp dụng vào một lãnh vực như tín lý tôn giáo. Lại càng khó hơn khi phải định nghĩa khách quan thế nào là xác tín (Tôi hiểu xác tín theo nghĩa tiếng Anh là conviction, một sự quyết tâm trong niềm tin vào những gì mình tin.)
Sau khi đặt câu hỏi, ông diễn giảng và mổ xẻ vấn đề cho đến trang 181, là chỗ ông dứt điểm bằng câu: “KiTô hóa không phải là KiTô giáo hóa. Một số giá trị tiềm ẩn trong tin mừng, tuy rất ít được tôn trọng, nhưng càng ngày càng trở thành những đòi hỏi chung cho toàn thể nhân loại.”
Đây là một suy nghĩ có giá trị. Ông Tri dường như muốn tách rời đức tin/tin mừng ra khỏi hình thức và khuôn mẫu bề ngoài của tôn giáo? Điểm này hay, nhưng làm sao có thể thực hiện đối với số đông vẫn còn ngụp lặn trong mê tín và sự kềm tỏa của tôn giáo?
Câu hỏi và lối đặt vấn đề của ông Tri dễ gây ngộ nhận. Trong lịch sử, đã không thiếu gì người bỏ Chúa và cũng không thiếu những người theo Chúa. Chân lý không hẳn là những gì đã được cầu chứng và thị thực, cũng không là suy nghĩ chung của số đông, và chắc chắn không phải là những gì ban phát từ thần quyền. Lòng xác tín còn tệ hơn, và vì tính chủ quan của nó, nó mơ hồ hơn trăm lần cái ta nghĩ là chân lý. Lòng xác tín con người là một thái độ hành xử ý nghĩa freewill.
Lòng xác tín của một người cũng có thể là một sự vô minh đầy đọa cho kẻ khác. Lòng xác tín có thể cũng là một thái độ tự kỷ ám thị hay thái độ cố chấp không hơn không kém. Nói nôm na, xác tín là một thái độ nhất quyết giữ vững lập trường. Người cộng sản trung kiên cũng có sự xác tín và lòng nhiệt thành của họ đối với lý tưởng mà họ theo đuổi và đó là một điều đáng nể tuy ta có thể không đồng ý với lý tưởng của họ.
Tự do quý lắm, nhưng thế nào là tự do? Tạo ra một mẫu số chung về tin mừng cho nhân loại? To lớn quá. Rất hay, nhưng thế nào là tin mừng? Nhân loại với hàng trăm thứ văn hóa khác nhau, biết bao nhiêu tin mừng cho đủ?
Phức tạp không dễ giải thích. Tôi tạm tránh không đi vào chi tiết. Tôi có cảm tưởng ông Tri đã đóng khung tri thức của ông vào một thế giới nhìn theo một lăng kính cố định cổ điển. Ông nhiều hoài bão quá!
Cùng một lối suy nghĩ và lập luận như ông, một Phật tử như tôi cũng có thể lý luận,
“Phật hóa không phải Phật giáo hóa, những giải thích trong triết lý Phật giáo phù hợp với khám phá khoa học hiện đại, không có tính chất giáo điều, thích hợp với suy tư con người và trở thành những giải đáp chung cho toàn thể nhân loại trong việc đi tìm sự thật.”
Với cốt tủy KiTô giáo, cứu cánh nằm ở tình thương và sự cứu rỗi của Chúa. Với Phật giáo, cứu cánh là sự tự giác ngộ của mỗi cá nhân trong việc đi tìm chân lý của sự sống.
Một điểm nữa tôi cũng muốn được bàn cãi nhân dịp này, vì nói gợi lại một giai đoạn đen tối của dân tộc và tôi không đồng ý với ông Tri.
Trang 182, ông đã diễn giải một cách có lý- trên nguyên tắc- về sự đón nhận tin mừng của cha ông ta khi đạo Chúa được truyền bá vào VN và ông đề cao họ là những người “khẳng định tự do tôn giáo đầu tiên trên đất nước này.”
Ông Tri lý luận, “yêu quê hương đất nước không có nghĩa là phải yêu cái đạo hay ý thức hệ của nhà nước, của vua quan, của dân tộc.” Nếu đã lý luận như thế, tại sao không giải thích thêm cho rõ thế nào là yêu quê hương đất nước?
Đến đoạn chót, ông minh định,
“Cũng như yêu nước không phải là yêu Khổng giáo, Lão giáo, Công giáo hay Phật giáo.”
Câu này ông Tri cũng không định nghĩa rõ: thế nào làyêu nước. Thâm ý ông Tri muốn gì?
Ông Tri quên-hay cố tình quên- rằng lịch sử của Việt Nam là một lịch sử của chính sách đồng hóa, chính sách đô hộ và là một lịch sử của những tranh chấp nội chiến và những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, như Trung Hoa và Mông Cổ. Như thế tinh thần yêu nước được thể hiện ra ở sự đoàn kết chống xâm lăng và sự hy sinh tính mạng để bảo vệ bờ cõi đất đai của tiền nhân. Tuy nhiên, với những kẻ thù xâm lược bằng gươm dáo, sự chống trả không khó, vì ta có thể nhận diện được vũ khí kẻ thù tương đối dễ dàng, nhưng nếu sự xâm lược ấy vô hình, như trong chính sách đồng hóa/cultural assimilation của Tầu, hay nội chiến giữa một đám mũi tẹt da vàng, hay sự “xâm lược” nằm trong những phạm trù tôn giáo chứa đựng tư tưởng siêu hình của Tây phương, thì “kẻ thù” ấy rất nguy hiểm. Nguy hiểm cũng như cuộc chiến ý thức hệ Bắc Nam chúng ta vừa trải qua. Cả hai miền Nam Bắc đều nhân danh lòng yêu nước và yêu tự do. Nhưng lịch sử đã cho thấy, chúng ta không thể dùng súng đạn để mà giết một hệ thống tư tưởng khác biệt, chúng ta chỉ có thể chuyển hóa và thay thế một hệ tư tưởng bằng một tư tưởng khác.
Ông Tri hô hào đề cao “tự do tôn giáo”. Đồng ý. Nhưng tôi cũng xin cảnh giác và xin ông Tri đừng lẫn lộn “tự do tôn giáo” với “tự do tư tưởng về tôn giáo” Hai điều này khác nhau như nước với lửa. Một đằng tin, một đằng suy ngẫm về cái mình tin. Khác nhau lắm ông Tri ạ!
Ông Tri là một giáo dân nòng cốt, vậy tôi xin hỏi ông: Vatican đã dạy ông tin hay dạy ông tư tưởng một cách độc lập về những gì ông tin?
Hỏi, là tự trả lời.
Tôi có cảm tưởng ông Tri đang vùng vẫy trong mạng lưới biện chứng vô hình của ông và hình như ông đã không suy xét kỹ khi bàn về vấn đề này. Cần có đối thoại thẳng thắn để tìm hiểu vấn đề.
Tôi xin trình bày với ông như sau:
Ngày xưa, hàng trăm năm về trước, trong xã hội bán khai, sự hiểu biết về khoa học của tiền nhân ta là con số không, vì thế, sự truyền bá đức tin và giáo lý không gặp phải những “chướng ngại vật trí thức” trong việc xác định vấn “thật hay giả” vì xã hội ta thời ấy làm gì có một nền khoa học để mà tìm hiểu những chuyện trong kinh thánh là sự thật hay sự giả. Tin mừng là gì nếu không là một số hứa hẹn viển vông về “nước Chúa trên trời”? Vì nếu tin mừng KiTô thuần túy chỉ là một trong những nghệ thuật ăn ở hay triết lý sống ở cõi đời này thì tôi và ông đã chẳng có gì để bàn cãi (như chuyện so sánh cam táo trái nào ngon hơn.)
Vào thời xa xưa ấy, quan niệm đạo đức luân lý và tình yêu nước không thể nào có được mầu sắc và thái độ dân chủ khách quan như bây giờ. Quan niệm “quân sư phụ”, “trung hiếu tiết nghĩa”, “tam cương ngũ thường”, v.v. vẫn là những khuôn thước hành động của tiền nhân theo Nho giáo, vậy thì sự truyền bá KiTô giáo vào nước ta thời đó, nếu gặp phải những phản ứng chống đối của người bản xứ, thì đó là chuyện phức tạp, tế nhị, và cần phải được phân tích một cách hết sức thận trọng trên nhiều mặt để tìm hiểu bối cảnh lịch sử chứ không thể đơn thuần phê phán một lời kết tội là vua quan ta đã bảo thủ “ý thức hệ nhà nước” như ông Tri nêu ra.
Ông cha ta ngày trước hầu hết là những người làm nghề nông, thất học, cổ hủ, nghèo khó, nhưng tâm hồn nói chung chất phác thành thực. Nếu họ được những thừa sai Âu châu dạy cho biết chữ sau đó truyền giáo giảng đạo thì chỉ biết nghe và tin theo, và một khi tin rồi thì coi như vấn đề đã xong, chứ ông cha ta làm sao mà có thể có một nhận định đúng sai một cách sắc bén về tín lý KiTô như hiện đại? Sự thờ kính ông bà và những tín ngưỡng của ông cha ta làm sao có thể so sánh với cái hiểu biết của thế kỷ 20? Cái hiểu của ông cha ta về đạo Chúa làm sao có thể là cái hiểu của những triết gia về Jesus hay những khám phá khoa học về bản chất Thượng Đế?
Và như thế, có sự chinh phục nào hiệu nghiệm và đáng sợ hơn sự chinh phục bằng tôn giáo?
Một điểm quan trọng ai cũng thấy, đó là đối với dân tộc Việt nam, việc cúng giỗ rất quan trọng trong một xã hội nông nghiệp, và giả sử nếu có một tôn giáo mới nào truyền bá vào Việt Nam, thì dù hay dù tốt đến đâu nhưng nếu tôn giáo đó đưa ra những cấm đoán, như việc giỗ chạp tế lễ, đưa đến đụng chạm và xung đột thì đó là chuyện thường. Hơn hai trăm năm liên tiếp, tục thờ cúng ông bà thiêng liêng của người dân Việt đã bị thần quyền Vatican mặc nhiên cấm đoán và Vatican còn đồng hóa tục lệ đó với tục thờ ngẫu tượng hay tế thần của những bộ lạc Phi châu. Dưới mắt người ngoại quốc, Việt nam chỉ là một trong những mảnh đất mọi rợ cần khai phá, và tổ tiên chúng ta chỉ là một lũ “dân ngu” cần được giáo hóa. Những tín lý thần quyền chỉ là một phần nhỏ của văn hóa nước ngoài du nhập vào VN để từ đó ông cha ta có thể trở thành những người dễ sai khiến như những cảm tình viên tôn giáo. Lớp người này được thực dân hy vọng sẽ góp phần đắc lực tiếp tay họ trong việc tranh dành thuộc địa và đặt chế độ bảo hộ. Tôi không dám quảquyết nhưng điều này là một sự kiện lịch sử có những bằng chứng có thể xem là xác thực.
Dĩ nhiên, cũng có những giáo sĩ đã có công đem vào xứ sở ta những điều mới lạ tân tiến, kể cả việc thành lập chữ quốc ngữ, nhưng điều quan trọng ta phải phân biệt là hiểu dụng tâm của họ cũng chỉ nằm trong một chiến lược chung của người Pháp đối với VN. Nếu trọng tâm của Pháp nhằm thuộc địa hóa VN, thì những sản phẩm văn hóa hay tôn giáo tốt đẹp nhất của ngoại nhân cũng chỉ nằm trong một sách lược thôn tính nước nhược tiểu. Và không nên để cảm tình lấn át lý trí khi phân biệt sự việc.
Nếu sự thờ cúng ông bà tiền nhân tượng trưng cho những thứ keo sơn gắn liền người dân Việt với nhau và là những điển hình cho dân tộc, tượng trưng cho tình yêu xứ sở, giống nòi, thì thử hỏi vua quan thời đó xem sự cấm cúng bái của Vatican xúc phạm đến lòng thành kính và tự ái của dân tộc ra sao? Vatican có bao giờ dạy giáo dân phải tôn trọng tôn giáo khác cũng như tôn giáo của mình?
Thần quyền, song song với chính sách thuộc địa hóa, đã chạm trán với vương quyền và văn hóa tam giáo của người dân bản xứ. Hai thứ quyền đụng nhau trên một mảnh đất với một vị trí chiến lược quan trọng đôi khi trở thành một bãi chiến trường!
Tôi xin hỏi ông Tri rằng ông đã nghĩ và suy luận như thế nào khi ông hùng hồn biện thuyết như một luật sư đang biện hộ cho lập trường của những người theo công giáo đầu tiên trên đất nước này. Hãy nghe ông lýluận,
“họ không theo đạo của nhà vua, của số đông. Đối với họ, yêu quê hương đất nước không có nghĩa là phải yêu cái đạo hay ý thức hệ của Nhà nước, của vua quan, của dân tộc. Không có quốc giáo.”
Cám ơn ông đã biện hộ cho những tiền nhân theo công giáo một cách thiếu suy xét và cân nhắc.
Nhưng nói đúng ra, lý luận như thế không sai. Lý luận một cách chính trị như thế trong thời buổi hiện đại là tôn trọng quyền tự do, nhưng ông Tri đã không nhìn kỹ được được thực trạng của đất nước khi đặt vào tình trạng sơ khai những thế kỷ trước.
Ông Tri còn mạnh bạo hơn qua câu sau đây, “Nhưng quan điểm này sai trái và xúc phạm nhân phẩm, xúc phạm quyền tự do của con người”
Hùng biện và rất đúng trên nguyên tắc. Nhưng rất có thể đã không phản ảnh sự thật đã xẩy ra hàng trăm năm về trước. Điều này đã được ông Tri nhắc đến trong trang 173, “Xin đừng quên, tôn giáo cũng là một phương pháp trị dân, mị dân...Cần cảnh giác trước viễn tượng tôn giáo”
Viết câu này, tôi thấy là ông Tri đã rất sắc sảo và chi tiết trong lối suy nghĩ. Hay, nhưng nguy hiểm. Ông cũng như một người đi trên dây tử thần khi ông lý luận “KiTô hóa không phải KiTô giáo hóa”
Đơn giản, ý ông Tri muốn ám chỉ: có những khác biệt lớn giữa “KiTô giáo” và “văn hóa KiTô” Nhưng theo tôi, họa may chỉ có những học giả ngoại quốc mới phân biệt một cách tinh vi và tường tận như ông.
Tuy vậy, tôi xin hỏi ngược lại ông: những thừa sai không đem tôn giáo như một thứ vũ khí để “mở mang nước Chúa” vào Việt Nam thì đem gì? Nếu họ chỉ thuần túy đem tin mừng một cách vô tư như một luồng gió mới từ phương xa thì tại sao họ lại cấm chúng ta thờ kính ông bà? Sự cấm đoán ấy không là một “áp đặt tín ngưỡng” có tính cách mị dân thì là gì? Nếu họ chỉ mời chào tin mừng như một thứ triết lý ăn ở mới thì họ đã không cần phải phải dùng quan niệm Chúa để mà nghiêm nhặt cấm đoán bất những gì thuộc về nội bộ của đất nước ta, và cùng một lúc làm ra rất nhiều thứ kinh cầu kinh bổn có tính chất nhồi sọ áp dụng một cách máy móc vào đám đông giáo dân. Thay vì dạy tín đồ phương pháp suy luận và tìm hiểu ý niệm Thượng Đế bằng lý trí và khám phá khoa học để đi đến một nhận thức khả tín, họ thần thánh hóa Thượng Đế theo những tiêu chuẩn được xếp đặt sẵn của những tay lái buôn tâm linh ngoại quốc.
Thế nào là “xúc phạm quyền tự do” của con người? Cấm giáo dân không được thờ ông bà, ăn đồ cúng vì coi đó như thứ thực phẩm đã được tế thần thì có phải là xúc phạm tự do và nhân phẩm con người Á đông hay không?
Ngày xưa, vấn đề “tự do tín ngưỡng” là một quan niệm rất mơ hồ. Dân tộc ta xem việc cúng giỗ, tôn trọng vương quyền như những lề lối ăn ở chung của dân tộc. Lệ làng, phép vua, tục thờ kính cha mẹ, lòng trung quân ái quốc hiểu theo nghĩa “quân thần bằng hữu huynh đệ” là những điển hình cho nếp sống và suy nghĩ chung của con người. Vấn đề “tự do tôn giáo” hay “kỳ thị chủng tộc” không rõ rệt. Giáo lý KiTô, trong một môi trường xa lạ, vì thế đã trở thành những “món quà mới lạ” với những tâm hồn chất phác trong một xã hội bán khai. Họ tin và theo đạo Chúa vì giáo lý gieo vào đầu họ một số câu hỏi và đồng thời “giải đáp” cho họ một số câu hỏi vô nghĩa như: Con người do ai tạo nên, vũ trụ do ai tạo ra, linh hồn là gì, sau khi chết ta đi về đâu, Thượng Đế là gì, tại sao ta phải thờ phượng Thượng Đế, Jesus là ai, Đức mẹ đồng trinh chịu thai Chúa thánh thần ra sao, Chúa ba ngôi, Jesus xuống thế để làm gì, Jesus đã làm những phép lạ nào, đã chết và thăng thiên làm sao, vv,
Những câu hỏi siêu hình nặng lề lối tư duy và không kém phần duy vật này họa may chỉ có giá trị và chỗ đứng trong nền triết lý La, Hy. Chúng hoàn toàn không thích hợp và còn trái ngược trầm trọng với triết lý về Đạo của Lão tử hay thuyết vô ngã của Phật giáo.
Niềm tin phi khoa học là thứ niềm tin dễ đưa đến cuồng tín và dễ bị khích động do tính cố chấp. Đó là cái đau lòng và đáng thương của ông cha ta, những người theo công giáo. Chúng ta không muốn lên án, nhưng suy niệm và cảm thông cho những mê tín dị đoan ông cha đã vướng phải. Tất cả chỉ vì không có ánh sáng của khoa học, của lý trí, của nghi vấn.
Những tín ngưỡng ngoại lai tây phương cộng thêm những yếu tố dị biệt kể cả sự hợp tác với ngoại nhân đưa đến những xung đột giữa lòng dân tộc, và chuyện đổ vỡ chắc chắn phải xẩy ra. Tệ hơn nữa, ông cha ta, một khi đã tin đạo và trở thành những nô lệ và dụng cụ của tôn giáo, có thể nhiều người đã quay trở lại và nhìn chính bằng hữu vua quan của mình như một bọn “ngoại đạo là kẻ dữ”, và xem việc thờ cúng tổ tiên là “phản nghịch Chúa”
Nếu đã chia cách phân biệt như thế, thử hỏi không trở thành thù nghịch sao được. Tâm lý con người, nhất là những kẻ thiếu kiến thức, thì một khi họ tin điều gì, thường có thái độ tự tôn tự mãn cố chấp và khinh tôn giáo khác là sai lầm. Mầm mống chia rẽ bắt đầu ở đó. Thời gian tôi còn trung học, những bạn bè công giáo của tôi đều là những người tốt nhưng thái độ tôn giáo của họ khá ngạo mạn, coi rẻ và đánh giá sai lầm những tôn giáo khác.
(Khi ôn lại lịch sử, ta cũng phải nhìn nhận là máu của dân tộc, của người công giáo đã phải đổ quá nhiều chỉ vì sự vô minh và bất khoan dung của con người đối với con người.)
Trong cuốn sách này, nhiều anh em cũng đã nhìn nhận những sai lầm của chính sách truyền đạo như thế (Nguyễn Tiến Cảnh, trang 146, Đoàn Thanh Liêm, trang 108) chứng tỏ một số anh em đã hiểu rõ vấn đề và nhận thức sáng suốt hơn ông Tri. Có thể nói: họ bộc trực và ngay thẳng hơn ông Tri.
Nếu ông Tri có một cái nhìn khách quan và công bằng về đạo Phật thì ông sẽ thấy rằng đạo Phật nhân bản, hoàn toàn không có vấn đề rao giảng và cũng không có một tổ chức chặt chẽ quy mô hoàn bị từ trên xuống dưới như công giáo. Đạo Phật là một mối dây vô hình ràng buộc làng xã thôn xóm và sự bành trướng của đạo Phật không lệ thuộc nhiều vào sự truyền giáo hay rao giảng đức tin mà là một sự thấm nhuần trong cách ăn ở của tiền nhân qua nhiều thế hệ. Vì thế ngày xưa, quan niệm Phật giáo là quốc giáo, nếu có, phải được đặt vào bối cảnh xã hội thời ấy. Tại sao: vì thờ kính Phật và thờ kính ông bà tổ tiên đi chung với nhau. Và theo tôi tập tục này không dính dáng đến vương quyền, mặc dầu có những vì vua thời Lý, Trần đã chịu ảnh hưởng Phật giáo và đã tôn Phật giáo lên làm quốc giáo.
Cấm chúng ta thờ ông bà thì cũng không khác gì cấm chúng ta ăn nước mắm. Nó là những gì dính liền vào văn hóa và cội rễ dân tộc.
Trở lại vấn đề tôi muốn tranh luận với ông Tri. Khi ông đề cao sự “tự do tín ngưỡng” của ông cha ta theo đạo Chúa thì cá nhân tôi muốn nhấn mạnh đến quyền độc lập trong vấn đề “tự do suy tưởng và hoài nghi” của con người.
Tôi muốn nói rằng đến cuối thế kỷ 20, những bí mật của thiên nhiên không còn là bí mật nữa. Thuyết tiến hóa, thuyết tương đối, lượng tử, di truyền học, sinh vật học, địa chất học, di tích học, nhân chủng học, thiên văn học, vũ trụ học, vv, đã trả lời được hầu hết những câu hỏi mà ông cha ta hoàn toàn không hề biết và không hề đặt ra.
Tinh thần hoài nghi và phương pháp khoa học đưa đến chân lý, bắt đầu từ thời điểm của Galileo. Đây là thắng lợi vĩ đại của khoa học tây phương và nhân vật lịch sử Galileo cũng là dấu mốc của thời điểm mà khoa học và thần học bắt đầu trở thành khắc nghịch.
Tự do tôn giáo của ông cha ta, vì thiếu ánh sáng khoa học như thế, tôi xin kết luận: đó là một thứ tự do thiếu tự do (nếu hiểu tự do theo nghĩa dùng trí tuệ và khám phá khoa học để tự đặt nghi vấn, tự phát hiện và tự kiểm chứng những gì mình đang tin.)
Sự truyền giáo của Vatican mang tính chất áp đặt tín lýcủa thần quyền qua việc coi đạo khác là ma quỷ. Sự cấm đoán này cho thấy rõ mặt thật của sự xâm lăng tôn giáo. Nó còn là một sỉ nhục và một sự phạm thượng vào chính cội rễ thiêng liêng nhất của người Việt: đó là tấm lòng đối với tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất. Ông cha ta theo công giáo đã không đủ sắc bén để nhận thức điều đó, vì họ khiếp sợ và thần phục những thừa sai ngoại quốc, là những người họ cho là trực tiếp đại diện cho Chúa.
Đáng buồn thay cho thứ tâm lý nô lệ hèn hạ này của tiền nhân.
Sự cấm đoán này, tiếc thay, kéo dài một cách dai dẳng, phi lý, bất nhân cho đến công đồng Vatican 2 mới được nới tay buông thả sau bao nhiêu biến động trên khắp quả địa cầu làm thức tỉnh lương tri, tự ái cũng như lòng mong muốn tự trị độc lập của những nước nhược tiểu.
Nhưng đã quá trễ và đã quá đổ vỡ để mà có thể hàn gắn một cách lành lặn.
Tôi xin phép nhân dịp này đề cập vắn tắt đến vấn đề thờ phượng: Hành động và tục lệ thờ phượng đã có rất lâu trong lịch sử loài người. Theo tôi, phong tục Á đông thờ kính ông bà cha mẹ tiền nhân, kể cả Đức Phật phải được hiểu theo nghĩa: tưởng nhớ và kính mến thể hiện qua hành động. Thắp hương thành tâm khấn vái, cúng hoa quả tươi, quỳ lạy trước bàn thờ hay trước mồ mả nói lên sự kính trọng và nhớ tiếc, vì ông Phật trên tòa sen chỉ là một bức tượng gỗ hay đất đã được sơn son thếp vàng không hơn không kém, và ông bà ta chỉ còn lại mấy tấm hình hay bức vẽ hay nhiều khi chỉ là tấm bài vị đơn giản. Hành động “thờ kính” của ta có nghĩa là ta đang đối diện với chính cái ta trong lúc đó vì ông Phật hay ông bà có còn ở đó đâu? Tất cả đều đã trở về với vũ trụ, với hư vô cát bụi, chỉ còn lại sự trống không nguyên thủy.
Trong khi đó, thờ lạy bên KiTô giáo mang những ý nghĩa thật sự, bắt nguồn từ tục lệ giết gái đồng trinh hay súc vật mới lớn để lấy máu tế thần. Người dâng của tế lễ tin chắc rằng ông thần đang thực sự ngồi hưởng trên không trung và hài lòng vì món ngon vật lạ. Tục lệ này được KiTô giáo vay mượn miễn phí, xào đi xáo lại qua bao nhiêu thời đại, và trở thành những nghi lễ trọng thể nặng hình thức, và người công giáo tin tưởng chắc chắn là mình đang uống máu và ăn thịt Jesus. Xin hỏi: đây là đức tin hay mê tín?
(Lúc còn trẻ tôi nhiều lần dự lễ Misa mặc dù gia đình theo Phật, cũng đã đùa nghịch giả bộ theo bạn bè công giáo ăn bánh thánh. Lúc theo đạo Tin Lành, tôi và các tín hữu trong những buổi họp cũng đã chia nhau uống ly rượu nho và chuyền tay nhau một miếng bánh mì sandwich mỗi người gậm một miếng, trong lòng tự nhủ rằng mình đang ăn thịt uống máu Chúa. Lúc còn bé, tò mò nghịch ngợm chẳng biết gì. Lớn lên, hiểu ra, chỉ thấy đó là những tập tục tôn giáo vay mượn rất vô nghĩa, lại còn mất vệ sinh. Thời gian đó, tôi cũng rất lấy làm lạ khi thấy Tin lành và công giáo đối nghịch và khinh bỉ nhau tuy cùng thờ một Chúa.)
Ông Tri đã thiếu sót một cách đáng tiếc giữa 2 điều, một là thái độ “tự do chọn lựa tôn giáo” và thái độ “tự do suy tưởng để mà tự vấn, tự điều tra” của một hữu thể nhận thức ra được sự hiện hữu của nó trong trời đất. Chỉ khi nào một con người có được hoàn toàn tự do trong lãnh vực suy tưởng, thì con người ấy mới hoàn toàn tự do. Thái độ tự do suy tưởng cũng là thái độ phi tôn giáo của những nhà bác học thượng thặng và những triết gia lớn của nhân loại.
Tôi cảm thấy ở một đôi chỗ ông Tri đã không đủ thành thật và can đảm để nhìn sự thật.
Vì thế, sau khi cân nhắc những gì ông viết, tôi phải kết luận rằng ông Tri đã khéo léo bảo thủ trong cách nhận định vấn đề, nhưng ngược lại, tôi nhìn nhận suy nghĩ của ông đúng và đáng tôn trọng. Đúng trong thời buổi khoa học này, khi mà niềm tin tôn giáo phải luôn luôn đi kèm với hiểu biết khoa học để dung hòa giữa cuộc sống tâm hồn và cuộc sống trí tuệ. Đúng, vì “văn hóa KiTô” là một văn hóa đưa đến văn minh và tiến bộ cho những nước tiền phong Âu Mỹ. Cái mà ta phản đối, là cách thức nhồi sọ về tín ngưỡng của hệ thống gọi chung là KiTô giáo.
Đó là lập luận của tôi nhằm để bàn cãi về câu ông đã viết ra mà tôi xin lập lại sau đây:
“Nhưng quan điểm này sai trái và xúc phạm nhân phẩm, xúc phạm quyền tự do của con người”
Theo tôi, cái tự do tuyệt đối của con người nằm trong khả năng suy tưởng và những cảm xúc xuất phát tự lương tâm lý trí. Con người tự do là con người không những có khả năng nói không với Thiên Chúa, mà còn nhận thức được rằng quan niệm Thiên Chúa nhìn theo quan điểm first cause hay prime mover thời Aristotle là một quan niệm không còn chỗ đứng trong khoa học hiện đại.
Ngày nay, trên phương diện âm nhạc chẳng hạn, người Á Đông chúng ta có thể thưởng thức và rung động trước những tấu khúc trữ tình của Tây phương như Beethoven, Chopin, Bach, Mozart, vv, nhưng không vì thế mà nỡ chê bai cổ nhạc Việt Nam là sai lầm hay quê mùa. Người công giáo có thể thờ Chúa theo quan niệm và văn hóa của dân da trắng nhưng cũng không nên vì thế mà nghĩ rằng đạo Phật là thứ đạo “bụt thần ma quỷ” như những thế hệ trước của ông cha.
Xin rẽ sang một vấn đề khác. Trang 184 là một trang sáng giá và tôi hoàn toàn đồng ý với ông Tri trong câu, “mỗi con người mang trong mình những đòi hỏi, những giá trị vượt tầm người mà vì thế phải tôn trọng. Tù khước điều đó là phủ nhận phẩm giá con người, dù nhân danh gì gì đi chăng nữa, thì cũng là chối bỏ Thiên Chúa”
và một câu khác,
“Không có thần quyền! chỉ có những kẻ xưng thần hoặc dựa vào thần thánh để nạt dân.” Tôi không hiểu Vatican sẽ nghĩ sao về lập luận này vì Vatican đứng vững được là nhờ vào sự nhân danh thần quyền cùng sự tin tưởng và phục tòng tuyệt đối của tín hữu.
Giáo sư Trần Chung Ngọc và giáo sư Đỗ Mạnh Tri, theo tôi biết, đã vô tình gặp nhau ở một điểm chung có ý nghĩa. Với ông Ngọc, Thượng đế là trí tuệ con người. Với ông Tri, những giá trị vượt tầm người phản ảnh Thiên Chúa. Vậy xin lập lại câu hỏi: phẩm giá hay giá trị con người là ở đâu? Cái giá trị nào vượt tầm người? Xin thưa, đó chính là cái lý trí biết nhận thức sự việc của mỗi chúng ta. Với lý trí và luận lý, con người vượt được giới hạn xác thịt của nó để vươn mình vào cõi vô hình, và nắm bắt được nguyên ủy của vũ trụ qua chiều kích của tâm linh, trí tuệ.
Hai vị giáo sư đi hai con đường khác nhau, tưởng như là đối nghịch nhau, nhưng xét kỹ, đều cùng đạt đến một kết luận tương tự.
Trong thế kỷ 21, cá nhân tôi bi quan nhiều hơn lạc quan về hiện tình của nhân loại. Tôi nghĩ rằng Thượng Đế sẽ đóng một vai trò rất mờ nhạt và không còn “ăn khách” nữa. Những hứa hẹn của tôn giáo càng ngày càng trở nên hão huyền, xa cách, đầy dẫy ảo tưởng. Những nỗ lực bành trướng một cách quy mô của những tiểu giáo như Mormon, đang tìm cách “toàn cầu hóa” tín điều của Joseph Smith, chỉ là muối bỏ bể. Nhân loại sẽ lâm vào những khó khăn vật chất có thể nói là không tiền khoáng hậu có thể đưa đến chỗ diệt vong.
Hai ngàn năm một thuở, hay lắm, nhưng chưa chắc đã có Ba ngàn năm một thuở. Chúng ta chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi mong manh trong cái vô cùng vô tận của không thời gian.
Giáo sư Tri, tuy với kiến thức và khả năng biện thuyết tài tình, bản chất của ông vẫn là bản chất của một tín hữu công giáo với những niềm tin cố định và bảo thủ-bảo thủ theo một nghĩa tốt. Tôi nhìn nhận: Giáo hội công giáo VN đã và sẽ còn cần những tín hữu với tiếng nói bình tĩnh và sáng suốt như ông. Người cùng hay không cùng một tín lý KiTô phải nhìn nhận bài của ông là một bài có những ý nghĩa sâu đậm.
Xin rẽ sang một vấn đề khác là một nghi vấn thường hằng: Jesus.
Bàn về Jesus một cách khách quan, và hãy tạm bỏ qua những chuyện vô lý về phép lạ trong thánh kinh, theo tôi hiểu thì một số những sử gia tên tuổi trên thế giới đã không xem Jesus như một nhân vật có thật, mà chỉ là một huyền thoại được truyền bá lâu ngày. Theo một số sử gia thì Jesus tượng trưng và điển hình cho một số suy nghĩ chính trị chống đối thời ấy, được nhiều ngòi bút lịch sử cô đọng lại thành một nhân vật đến từ Nazareth.
Chính ông Tri cũng nhìn nhận Jesus không đến thế gian để thành lập một tôn giáo-công giáo, nhưng đã đến để đem lại tự do cho con người, như một chính trị gia khôn khéo trong một xã hội bị hiếp đáp bởi thần quyền và thế quyền.
Hai triết gia lớn thời cận đại đã viết về Jesus mà người đọc hẳn đã biết, đó là Karl Jaspers và Bertrand Russell. Ngoài ra, Jesus còn là đề tài chính cho rất nhiều học giả trên thế giới. Cho đến hôm nay, khuôn mặt và cuộc đời Jesus vẫn chưa ngã ngũ. Không như Lão tử, ít ra cũng đã để lại cho hậu thế cuốn Đạo Đức Kinh, Jesus không để lại bất cứ một trước tác nào. Đây là một dấu hỏi lớn.
Bertrand Russell, khi nhận định về Jesus trong cuốn “Why I am not a Christian”, đã đặt những dấu hỏi về một số hành động khá lạ lùng của Jesus, như việc Jesus quở mắng cây vả và làm phép cho nó héo đi vì cây không có quả mà trong lúc đó bụng Jesus đang đói. Nếu Jesus có tài làm phép lạ thì chỉ cần một cái phẩy tay là cây vả ra đầy trái ngay. Thế nhưng Jesus đã biểu lộ một sự bực tức vô lý và sự bất lực trước một thân cây chưa đến thời kỳ ra trái để đến nỗi phải lên tiếng quở mắng nó, “Từ rầy về sau không còn ai ăn trái của mầy nữa!” Và cái cây tự động héo đi! Chuyện quái đản!
Thế là nghĩa thế nào? Kiến thức, khả năng lý luận và biện hộ của ông Tri sẽ áp dụng ra sao và câu chuyện này? Nếu vào thời buổi này, ôngTri ra đường gặp một người chửi bới một cây cam khi chưa đến mùa cam thì ông Tri sẽ nghĩ như thế nào về người đó?
Tôi cho rằng đây chỉ là những chuyện bịa đặt của những kẻ thất học và mất trí.
Một sử gia và cũng là một thần học gia lỗi lạc, David Flusser, đã dành cuộc đời để nghiên cứu về Judaism cũng như nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Jesus. Ông này tin rằng Jesus đã sống và chết như một người Do Thái ngoan đạo. Theo ông, Jesus đã không lập ra bất cứ một giáo hội nào trên trần thế. Ông được tưởng thưởng huy chương quý giá nhất của Do Thái vào năm 1980, huy chương Israel. Tác phẩm nổi tiếng về thân thế Jesus của ông, “Judaism and the origin of Christianity” chúng ta cần nên biết đến.
Một sử gia tiếng tăm khác, George Wells, cũng có 2 tác phẩm nghiên cứu về sự xác thực của Jesus, “Did Jesus exist? The historical evidence for Jesus” và “The Jesus legend” Người đọc nên tham khảo cuốn này để có một cái nhìn rõ rệt.
Một cuốn sách khác về Jesus, “The four witnesses, The rebel, The rabbi, The chronicle, and the mystic” của sử gia Robin Griffith-Jones mới đây, đã trình bày bốn hình ảnh trái ngược của Jesus trong tân ước qua ngòi bút của chính bốn tông đồ Mark, Matthew, Luke, John. Sử gia này cho thấy những tông đồ viết kinh thánh đã có nhiều mâu thuẫn cũng như chủ ý khác nhau khi viết về nhân vật Jesus.
Và còn nhiều biên khảo của những sử gia tên tuổi về cuộc đời Jesus. Có nghĩa là câu hỏi: Jesus đã là một người có thực hay chỉ là một nhân vật giả tạo? vẫn còn trong vòng nghi vấn.
Nhưng tôi cũng nghĩ rằng chúng ta không nên xem Jesus chỉ là một huyền thoại để rồi bài bác tất cả những bài học xử thế mà ta có thể học hỏi được từ cuộc đời Jesus như câu chuyện ném đá tôi nêu ra phần trên. Có biết bao nhiêu chuyện thần thoại giả tưởng trong kinh thánh đã được ánh sáng khoa học chiếu rọi, nhưng ngược lại, cũng có nhiều sự tích có ý nghĩa trong kinh thánh về cách xử thế. Rất nhiều sử gia văn gia xem kinh thánh là một trong những tác phẩm văn chương lớn của thế giới, đầy đủ hỉ nộ ái ố, thất tình nhục dục, chứa đầy dẫy tội ác, dâm dục và loạn luân, nhưng kinh thánh còn là một kho tàng súc tích về cổ sử đáng học hỏi để lấy kinh nghiệm sống. Ta không thể không tôn trọng những nhận định đầy thẩm quyền của sử gia.
Thái độ của chúng ta, vì thế, nên tích cực và rộng rãi với những nền tảng đức tin.
Ngoài ra, tôi cũng thấy cần nhắc lại rằng những sử gia đi tìm sự thật không bao giờ nghĩ như một tín đồ thông thường suy nghĩ. Đối với họ, nguyên tắc làm việc đặt căn bản trên sự kiện và sự khách quan phân tích và kiểm chứng dữ kiện, và dù có là một tín hữu KiTô hay phi KiTô, ta cũng phải nhìn nhận nguyên tắc đi tìm sự thật của họ là phương cách chính xác và khoa học nhất. Cho nên, ai đọc kinh thánh cũng có quyền tin vào Jesus và tìm được cảm hứng tâm linh khích lệ-spiritual inspiration- qua cuộc đời của ông, còn chuyện cá nhân Jesus có thật hay không thì đó lại là một vấn đề khác không hẳn đã là quan trọng.
Khoa học là một phương pháp hữu hiệu và chính xác để tìm sự thật khách quan thiên nhiên vì nó đặt căn bản trên trí tuệ tổng hợp của con người. Nếu giả sử trong một vài chục năm nữa, khoa học chứng minh được một điều nào đó về Jesus không giống những gì ta vẫn tin thì KiTô giáo sẽ phản ứng như thế nào? Gần đây, tấm vải liệm nổi tiếng “Shroud of Turin” đã bị khoa học chứng minh là một sản phẩm ngụy tạo vào thế kỷ 15. Gần hơn nữa, chuyện đức mẹ hiển thánh để mà tiên tri về số phận thế giới cũng đã bị chính Vatican phủ bác vì sự mê tín quá lộ liễu của nó.
Tôi xin nhắc đến một câu nói của đức Đạt Lai Lạt Ma để bạn đọc có một nhận xét về sự cởi mở của Lạt Ma đối với khám phá khoa học. Cách đây vài năm, trong một buổi hội thảo về thần kinh não học tại Newport Beach, California, đức Lạt Ma đã thẳng thắn nói, “Chúng tôi sẽ thay đổi cách suy nghĩ của Phật Giáo nếu khoa học phản chứng được những gì chúng tôi vẫn suy nghĩ và tin tưởng”
Nói như thế chứng tỏ ông khôn ngoan và đồng thời ông tôn trọng trí tuệ con người. Ông còn tạo cho mình được một sự dung hòa giữa khoa học và tôn giáo. So sánh sự thông thái và cởi mở của đức Lạt ma và thái độ chuyên quyền khép kín của Vatican, là so sánh trí tuệ sáng suốt của thế kỷ 21 với thứ não trạng độc tài của thế kỷ 15.
Những khám phá khoa học và những gì tôi đã tìm hiểu về những “phép lạ” Jesus đã làm khiến tôi nghi ngờ. Với thời gian, tôi nhận ra tín ngưỡng nào còn dựa vào phép lạ để rao giảng tín lý thì tôn giáo ấy còn đặt nền tảng trên sự mê tín. Nếu Jesus đã thực sự xây hội thánh trên một Pierre và xem Pierre là tông đồ thừa kế mình thì ít ra Pierre và các giáo hoàng kế vị cũng phải có “khả năng làm phép lạ” như một bằng chứng thể hiện sự trao quyền của Jesus. Điều này không hề có và không hề xẩy ra. Vậy ta phải kết luận ra sao về chuyện Jesus làm những phép lạ trong tân ước? Giả tạo và bịa đặt.
Những sách viết về KiTô giáo của những sử gia cho thấy giáo phái này đã trải qua một quá trình lịch sử quá dài và quá nhiều biến động để mà hậu thế có thể tin vào đâu là sự thật hay sự giả.
Theo tôi, nếu giả sử là có thật, thì Jesus đã sinh ra trong một thời điểm đặc biệt. Hoàn cảnh xã hội trong đời Jesus thúc đẩy ông có những hành động chính trị chống đối thế quyền. Có thể ông đã sống, đã giảng dạy về tình yêu, nhưng ông đã không hứa hẹn một thiên đàng vĩnh cửu sau khi chết. Điều đáng tiếc là những người viết tân ước đã cố tình đặt vào tay Jesus một số phép lạ chỉ để “chứng minh” Jesus là chúa. Những phép lạ là chuyện hư cấu và mê tín. Những người viết kinh thánh vô tình làm mất đi giá trị thực sự của Jesus bằng những sự thêu dệt về khả năng làm phép lạ.
Jesus chỉ thực sự có ý nghĩa khi ông là một người bình thường, sinh ra, lớn lên và chết đi như tất cả mọi hữu thể khác. Ngoài ra, Jesus có thể là một người đàn ông đã sống với tất cả những tham muốn và sân si của một hữu thể xác thịt nhưng ông còn là một khuôn mặt chống đế quốc và bạo lực vào thời đại đó. Ông đã đem lại cho thế gian một tin mừng trong thời gian ngắn ông sống. Tin mừng đó là ý nghĩa của 2 chữ “tự do” và “phẩm giá” của con người.
Jesus có thể ví như một thường dân áo vải đứng lên chống lại vương quyền và thần quyền trong một thời đại 2 ngàn năm về trước. Và cái chết bị đóng đinh của ông là cái chết vì lý do chính trị pha tôn giáo.
Thực sự mà nói, Jesus, Thượng Đế, thần thánh có thật hay không có thật tôi thấy không còn phải là điều quan trọng vào thời buổi này. Xã hội đa diện và phức tạp càng ngày càng thế tục hóa (secularization) và tôn giáo hiện nay chỉ còn đóng những vai trò rất khiêm nhượng, nếu không muốn nói thẳng là thừa thãi trong đời sống điên đảo xô bồ hiện đại.
Bài của ông Tri có những giá trị đáng đọc. Người đọc, dù là KiTô hay phi KiTô, đều học được ở ông một bài học giá trị. Mặt khác, bài của ông cũng có những chỗ âm u. Qua lý luận về tự do tôn giáo, ông Tri cho thấy ông dường như vẫn bị giam hãm trong một thứ ốc đảo tín lý nào đó. Hai chữ tự do của ông bị hạn chế và gượng ép. Tuy thái độ ông hòa nhã, khả năng lý giải ý nghĩa Phúc Âm khúc chiết, nhưng ở một đôi chỗ khả năng nhận thức bằng lý trí dường như đã bị chính ông tự nguyện bỏ vào tủ cất đi không dùng đến. Với ông, tôi cảm thấy kính ông, học hỏi được từ ông nhưng đồng thời tôi cũng coi thường ông về lối lý luận tinh vi của ông. Một đời học triết và dạy triết hình như cũng chỉ đủ sức làm cho ông trở thành một người rao hàng khéo léo của KiTô giáo, không thoát ra ngoài được những tư duy cổ điển của triết lý La,Hy. Đó là một thứ xiềng xích trí tuệ vô hình của tôn giáo tây phương.
Giá ông Tri là người bụng dạ thẳng thắn bộc trực như những anh em khác thì quý hóa biết bao.
Bài của ông Tri là một viên ngọc, một viên ngọc bị chính người dũa ngọc khắc lên những tì vết.
Kết
Nhận định cuốn sách, tôi nhìn nhận những người viết là những người đã trưởng thành trong đức tin và là những ấn chứng cho niềm tin KiTô. Các anh em đó đã vượt qua được sự bao vây của bức tường định kiến khổng lồ gọi là “tôn giáo” để nhận thức rằng tín ngưỡng chỉ là một phương tiện chuyên chở, không hề là một cứu cánh tuyệt đối hay duy nhất, để chúng ta có cùng hướng về những gì mà ta cho là chân thiện mỹ.
Tuy nhiên, tôi cũng nhân dịp này nói lên một chút tâm sự. Sau khi đọc xong, tôi có một số ưu tư. Ưu tư không phải vì không đồng ý với các bạn, mà chỉ vì chợt nhớ lại cách đây không lâu, Vatican đã ra một huấn từ với những lời huấn thị và phê phán nặng nề đối với những tôn giáo khác, kể cả những tôn giáo thuộc KiTô giáo. Tôi tự hỏi, với những trí thức công giáoViệt Nam cởi mở, cấp tiến, nhiệt thành, học cao hiểu rộng như các bạn, các bạn sẽ nghĩ sao về thái độ bảo thủ và chuyên quyền về những quan thầy của mình, những người không có cùng một giòng giống, không cùng một văn hóa Việt Nam hay Á đông. Tôi tự hỏi tại sao một Vatican cổ xưa và lỗi thời trong tất cả mọi vấn đề nhân sinh lại có thể vẫn còn ngự trị trên tâm thức của những trí thức Việt Nam một cách dễ dàng? Tại sao thái độ của các bạn dường như vẫn và đang là một thái độ phục tùng tuyệt đối đối với những người lãnh đạo thần quyền không cùng một giống nòi, tiếng nói, lịch sử hay những cảm xúc đặc thù của dân tộc? Người công giáo như các bạn phải làm gì để góp phần chỉnh đốn Vatican như trình bày những nguyện vọng, đặt vấn đề trực tiếp một cách thẳng thắn và chỉ trích trong tinh thần xây dựng để làm thay đổi nhãn quan của Vatican và làm cho Vatican phải nhận ra sự bảo thủ già nua của họ về sự thống trị tâm linh của họ trên nhân loại nói chung? Tôi nói những điều này từ lòng quý mến của tôi và tôi xem đó là một sự phê bình cần thiết nên chia xẻ.
Tại sao Vatican, thay vì đến lúc cần phải cởi mở, lại tự khép kín mình lại để mà tuyên bố những phán lệnh khắt khe,
“Ngoài Vatican, không có sự cứu rỗi nào khác”?
Và,
“những tôn giáo khác ngoài công giáo là bị hư hỏng”
Phải chăng những tuyên ngôn cứng rắn và bảo thủ ấy cũng giống như những cái tát tai dằn mặt của giới lãnh đạo Vatican gửi đến tất cả những tôn giáo khác trên thế giới? Các bạn nghĩ sao?
Đó là những ưu tư, thắc mắc, phiền muộn của tôi.
Giữa Công giáo và Phật giáo, chúng ta có rất nhiều điểm tương đồng cũng như trái nghịch, điều đó không hệ trọng. Càng ngày, với những tiến triển về mặt nhận thức, ranh giới cách biệt càng mờ đi. Đó là một ưu điểm chúng ta cần khai thác và cần học hỏi lẫn nhau để xứng đáng là những sinh vật biết suy nghĩ .
Qua những lời lẽ thô thiển, tôi cám ơn các bạn đã cho tôi được góp tiếng nói trong dịp đối thoại này.