THỜI GIAN và TÂM THỨC
Người Việt Nam ta có câu “thì giờ là tiền bạc”, người Mỹ cũng thế: “time is money” Thì giờ ở đây không giống ý niệm thời gian vì nó đã được vật chất hóa, mang khía cạnh cụ thể, được xem như một thứ tài vật-commodity-có thể sở đắc, không giống như thứ thời gian được đề cập trong văn chương, triết học hay khoa học.
Thời gian gắn liền và là thước đo tất cả diễn tiến sự việc, chi phối từ một hạt điện tử vô hình cho đến cuộc đời một anh phó thường dân như tôi cho đến Thượng Đế cao siêu trên trời.
Tôn giáo thường quan niệm Thượng Đế hiện hữu ngoài thời gian. Nhưng thế nào là “hiện hữu ngoài thời gian”? Tôi tự hỏi phải chăng đây chỉ là một hình thức đùa nghịch với chữ nghĩa? Hơn nữa, quyền năng phi thường như Thượng Đế tại sao Ngài lại phải vất vả đến những sáu ngày mới hoàn tất xong cái sản phẩm lắm chuyện gọi chung là vũ trụ? Phải chăng thời gian chi phối cả đến Thượng Đế, một khi Ngài đã nhúng tay vào việc phàm trần?
Thời gian giống như là một diễn viên vô hình trong thế giới hữu hình, mang nhiều bộ mặt trái ngược nhau: tạo dựng và tàn phá, tĩnh và động, âm và dương, âm thầm và sôi động, bất biến và chuyển biến. Thời gian có sức làm nguôi ngoai quên lãng tất cả mọi sự nhưng cũng có khả năng tạo niềm thương nỗi nhớ. Thời gian có sức hủy phá khủng khiếp nhưng ngược lại cũng có khả năng hàn gắn, xây dựng, và tái tạo. Ai từng say mê trước khung cảnh hùng vĩ phi thường của thung lũng Grand Canyon và dòng sông Colorado uốn khúc, ai đã từng lặng người trước những đỉnh núi cao chót vót vượt trời xanh trong rặng Sierra Nevada đều phải nhìn nhận không ai khác nhưng chính thời gian đã là tác nhân, là yếu tố làm nên tất cả những gì vĩ đại, những gì cao siêu huyền bí trong vũ trụ, trong đó có sự sống.
Vậy thời gian làgì? Có thể hỏi một cách có ý nghĩa những câu hỏi như : thời gian “bắt đầu” từ lúc nào và sẽ “chấm dứt” vào thời điểm nào? Triết gia có thể nói một cách có ý nghĩa như thế nào về nó? Khoa học gia có thể nắm bắt nó như thế nào trong phòng thí nghiệm?
Bàn về thời gian là một chuyện khá dài dòng, mơ hồ. Từ cổ Hy Lạp cho đến thời Phục Hưng sang đến thời cận đại, khoảng thế kỷ 15, 16, thời gian đã là một trong những đề tài suy tưởng của triết học và siêu hình học. Thánh Augustine đã từng nổi tiếng với câu than vãn, “Nếu không ai hỏi, thì tôi có cảm tưởng tôi biết thời gian là gì, nhưng nếu hỏi thì tôi lại không có khả năng giải thích nó là thế nào” Heraclitus đã nói ta không thể nào đặt chân 2 lần vào cùng một dòng sông, chủ ý nói đến sự thay đổi vô thường và tính chất đoản kỳ của vạn vật.
Augustine, Heraclitus chỉ là 2 trong bao nhiêu danh nhân đã từng thắc mắc về ý niệm thời gian. Nhà văn Aldous Huxley từng nhận xét rằng sản phẩm ý nghĩa nhất của thế kỷ 20 là “tốc độ” mà tốc độ ám chỉ thời gian. Văn gia H.G. Wells nổi tiếng qua tác phẩm giả tưởng “Bộ máy thời gian” cuối thế kỷ 19. Văn gia Dickens cũng đã đề cập đến thời gian. Nhà thiên văn Timothy Ferris cho rằng 3 khám phá lớn nhất của thế kỷ 20 là: không gian, thời gian, và sự tự phát hiện ra cái dốt của con người. Khoa học gia Galileo được xem là vĩ nhân đầu tiên đã mặc cho thời gian chiếc áo khoa học khi ông thí nghiệm tìm tốc độ của những vật rơi thẳng đo bằng một thứ đồng hồ nước. Charles Darwin, ông tổ thuyết tiến hóa, cho thấy thời gian là diễn viên ngoài lề nhưng quan trọng của những đổi thay vật chất, trong đó sự sống và tâm thức trở thành hiện hữu qua những biến đổi không ngừng của vật chất vô tri giác trên quả địa cầu mà yếu tố chính không ai khác hơn là thời gian. Tri thức luận của Kant xem thời gian là một thứ cảm quan tiên nghiệm cần có, cũng tương tự như quan niệm của toán gia Leibniz, một kỳ phùng địch thủ của Newton.
Newton xem không gian và thời gian như là một thứ sân khấu cố định và khách quan, một điều kiện cần thiết cho hệ thống cơ học về chuyển động của ông. Bác học Einstein sâu hơn Newton một nấc. Ông cho rằng thời gian mang một ý nghĩa vật lý đặc biệt khác với quan niệm của Newton. Theo Einstein, thời gian có thể co dãn nhanh hay chậm và có thể ngừng lại, tùy theo vận tốc của sự vật và không thể nào tách rời thời gian ra khỏi không gian. Với Einstein, không thời gian trở thành một khối duy nhất.
Sau cùng, khoa vật lý hiện đại còn đi sâu hơn một nấc nữa khi cho rằng thời gian và không gian chỉ được dùng như những phó sản phụ thuộc trong việc diễn giải thiên nhiên bằng một hệ thống toán học mới với những lý thuyết mới, trong đó không-thời gian chỉ có giá trị như một hình thức ước lượng. Điều này có nghĩa: thời gian và không gian bị mất đi địa vị nền tảng của nó.
Trong thánh kinh Cựu Ước, Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ bằng một thiên lệnh khởi đầu: Fiat lux -Hãy có ánh sáng- Điều này, hiểu theo nghĩa vật lý, cho thấy ánh sáng có một địa vị hết sức đặc biệt trong vũ trụ vật chất. Khởi đầu ở đây không có nghĩa là bắt đầu, mà ánh sáng được xem là có một nền tảng căn bản quan trọng ngang hàng ý niệm về thời gian lẫn không gian. Không có ánh sáng thì không có sự sống. Từ những khám phá khoa học về bản chất của không thời gian và ánh sáng, con người có thể nắm được bản chất và sự liên hệ của vật chất lẫn năng lượng một cách chính xác. Vận tốc tuyệt đối của ánh sáng đã làm triệt tiêu ý niệm thời gian và không gian trong những phương trình toán học. Có nghĩa: nếu con người có khả năng di chuyển bằng tốc độ ánh sáng, thì cả vũ trụ sẽ cô đọng lại thành một điểm và thời gian sẽ cô đọng lại thành hiện tại. Quá khứ vị lai sẽ không còn.Vì trị số tuyệt đối của ánh sáng như thế, hai căn bản đo đạc chính yếu là chiều dài và thời gian chỉ còn mang giá trị tương đối. Đó là ý nghĩa của chữ tương đối trong thuyết của Einstein, qua câu dictum nổi tiếng, “moving clock runs slow” (Chữ ánh sáng tôi dùng trong bài này nói chung cho quang phổ điện từ-electromagnetic radiation)
Trải qua những khám phá khoa học vĩ đại từ thế kỷ 16, 17 cho đến thế kỷ 20, khoa học đã tìm ra những yếu tính căn bản về không gian và ánh sáng, nhưng ý niệm thời gian vẫn lẩn quẩn tồn tại trong tâm thức như một cái nhọt nhức nhối. Đó là: tại sao con người nói chung vẫn cảm thấy một cái gì đó huyền bí trước những thay đổi trong thời gian?
Một trong những khác biệt lớn giữa loài người và loài vật là khả năng ý thức hết sức mạnh mẽ về thời gian. Đây là tiến trình tự nhiên của tiến hóa và là sản phẩm của một hệ thống não bộ cực kỳ phức tạp do những thúc đẩy môi sinh và những thích ứng với hoàn cảnh tạo nên. Có thể nói rằng với bộ óc lớn của con người, cái cảm giác về thời gian trong mỗi chúng ta tự thành hình qua những phản ứng vi hóa học của tế bào óc sau hàng trăm triệu năm tiến hóa. Sự ý thức về cảm giác thời gian đang trôi qua này đem đến một điều hãi hùng cho con người: nó là loài duy nhất có khả năng biết rõ nó đang sống và một ngày nào đó chắc chắn nó sẽ chết. Với loài vật, thời gian chỉ là những gì đang xẩy ra, là hiện tại, là bây giờ, và quá khứ cũng như tương lai là một cái gì đó nhạt nhoà mơ hồ. Với con người, thời gian trải dài và bao gồm những gì đã xẩy ra và sẽ xẩy ra. Một con sóc, một đàn kiến cũng có khả năng tích cốc phòng cơ theo bản năng. Một con voi già cũng có thể có những linh tính mơ hồ về cái chết sắp đến. Nhưng chúng khác hẳn loài người ở chỗ chúng không có một khả năng tiên liệu và dự phóng rõ rệt như chúng ta. Tại sao? Như thế phải chăng thời gian chỉ là một sản phẩm tưởng tượng, một thứ “thùng rác” của những ảo giác được tạo thành và cất dấu trong não bộ, một tập trung kinh nghiệm của ngũ giác? Và chuyện thời gian trôi qua chỉ là một thứ ảo nghiệm? Và như thế, phải chăng Heraclitus đã không sai khi ông nhận xét, “Ngũ quan chúng ta là những nhân chứng đáng nghi ngờ”
Nói đến thời gian, ta cần phân biệt hai “loại” thời gian. Một là cảm nghiệm cá nhân về sự hiện hữu của mình trong thời gian, qua những đổi thay phù du của vạn vật. Thứ thời gian này mang tính chủ quan, phản ảnh yếu tố tâm lý. Loại thời gian thứ hai là thời gian khách quan. Thứ thời gian mà khoa học gia tìm hiểu, định nghĩa, đo đạc, và toán học hóa. Trong vật lý, thứ thời gian này được ký hiệu hoá là t.
Một cách vắn tắt, thời gian là “khoảng cách liên hệ” giữa 2 sự việc, cũng như không gian là khoảng cách ngắn dài giữa 2 sự vật. Như thế, thời gian hay không gian được xem là một mối tương quan tạo ra ý nghĩa cho cái ta gọi là hiện hữu chứ chúng không tự hữu. Thời gian sẽ vô hiện hữu nếu không có những đổi thay của sự vật hay những chu kỳ của sự việc. Thời gian, như thế là một tương quan của sự việc, mang lại thứ tự. Và nó làm cho sự việc trở thành sự việc!
Nói chuyện thời gian, tôi cảm thấy không thể không nhắc đến tâm thức, mà theo tôi là một “thành quả” có ý nghĩa nhất của thời gian. Có một mẩu chuyện như sau: một sinh viên khoa học hỏi ông thầy vũ trụ học sau khi ông thầy giảng là vũ trụ đã có mặt từ 15 tỉ năm nay. Anh ta hỏi, một cách triết lý, “Tại sao vũ trụ lại có thể cổ xưa lâu dài đến như vậy?” Thay vì trả lời một cách lý thuyết khô khan, giáo sư vật lý suy nghĩ và trả lời một cách gián tiếp, “Tại vì chúng ta hiện hữu” Câu trả lời của ông giáo sư không có tính cách khoa học, nhưng nó làm nẩy sinh bao nhiêu tư tưởng trong trí tuệ người hỏi. Theo tôi, ông giáo sư đã trả lời một cách khôn ngoan-vì ông ta biết chắc không thể nào có thể trả lời trực tiếp cho những câu hỏi “tại sao” siêu hình vĩ đại như thế. Ông giáo sư đã nghĩ đến câu nói, “man is the measure of all things” “con người là thước đo vạn vật” của Protagoras, và ông đã trả lời một cách khôn ngoan để gây những tác động cần thiết cho trí tuệ anh sinh viên. Con người là thước đo vạn vật vì khả năng suy tưởng trừu tượng của nó.
Những tương quan giữa tâm thức và thời gian, vì thế, đã làm nẩy sinh một số ý nghĩ trong tôi. Tôi xin tạm chuyển đề tài để nói qua về tâm thức trước khi quay trở lại với đề tài chính là thời gian. Phần sau đây, tôi xin phiếm luận một chút về tâm thức.
Trong thiền học, tôi nhớ có một giai thoại, đó là chuyện 2 chú tiểu cãi nhau về chuyện lá cờ lay động. Một chú nói gió lay động, một chú cho rằng lá cờ lay động. Một thiền giả bảo là chính tâm thức đang lay động (the mind is moving)
Tâm thức (hay còn gọi là thức giác-consciousness) được xem là một hiện tượng tương quan tổng thể-holistic and relational phenomenon-của những tiến trình hóa học trong não bộ. Những hiện tượng bên ngoài đưa đến những phản ứng vi hóa học của tế bào óc dẫn đến hiện tượng gọi là tâm thức, cũng như sự co dãn bắp thịt trên mặt tạo ra nụ cười hay cái nhíu mày, nhăn mặt. Không có sự “lay động” trong óc thì không có tâm thức. Sự lay động tiềm tàng trong ý nghĩa hai chữ tâm thức. Sự lay động của tế bào óc chính là cái ta gọi là tâm thức. Không có sự lay động ấy thì không có cái cảm giác “tôi hiện hữu” vì cái “tôi” ở đây chỉ là một tự cảm phát sinh từ bộ óc của một sinh vật (gọi là người), khi mà não bộ của sinh vật đó còn hoạt động bình thường. “Tôi” ở đây không hoàn toàn có ý nghĩa ngôi thứ như “anh” hay “tôi” hay “nó”. Tôi ở đây mang ý nghĩa bản ngã-self, là một khả năng tự cảm của bất cứ một bộ óc bình thường nào, dù là óc của một con rắn, con chim, con mèo hay của con người. Bản ngã thành hình khác nhau ở cường độ, tùy theo sự phức tạp của não bộ.
Thiền giả nói “tâm thức đang lay động” nhưng thực sự ý ông muốn nhấn mạnh, “sự lay động tạo nên tâm thức-synaptics firings in a normal brain create mind”
Triết gia và toán gia Rene Descartes nổi tiếng một thời với nhị nguyên luận-body and mind/dualism-qua câu nói “Tôi suy nghĩ vì thế tôi hiện hữu”, và tiếc cho Descartes, đây là một phát biểu sai lầm của một tư duy lớn mấy thế kỷ trước. Descartes thực ra không đáng trách vì thời ông Âu châu chưa có một nền khoa học tiến bộ, và sự sống cũng như ý nghĩa sự sống hoàn toàn nằm trong tay sự giải thích của thần quyền. Con người Âu châu trong thời Trung cổ không có quyền tự do suy tưởng, và cũng không mấy ai có khả năng tư duy một cách độc lập. Descartes đã bị lôi cuốn vào một ngộ nhận vĩ đại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một sản phẩm của trí khôn nhưng chính ngôn ngữ lại là dụng cụ “tạo ra” con người và nó cũng là vũ khí hủy diệt căn tính của con người (lưỡi không xương nhiều đường lắt léo)
Nhà văn Milan Kundera đã chế diễu Descartes bằng một câu trong cuốn truyện Immortality, tạm dịch như sau, “Nói rằng tôi suy nghĩ vì thế tôi hiện hữu là câu nói của một nhà thông thái chưa thấm thía với nỗi khổ mỗi khi đau răng”
Trong cuốn sách nổi tiếng Descartes’ Error, Antonio Damaso, bác sĩ thần kinh sinh não học người Mỹ, đã bẻ gẫy nhị nguyên luận của Descartes một cách khoa học qua những dẫn chứng và lý luận về những yếu tố quan trọng như tình cảm-emotion, cảm giác-feeling, những liên hệ mật thiết sinh lý của cơ thể đưa đến khả năng suy nghĩ duy lý-rational thinking, của bộ óc và sự quân bình của cuộc sống con người. Theo ông, cơ thể, hay đúng hơn, thần kinh hệ của con người, cũng như tâm thức không thể nào tách rời nhau. Quan niệm của ông điển hình cho phái emergent monism. Tôi tạm dịch: nhất nguyên luận tổng hợp.
( Xin lỗi quý độc giả nếu lối dịch của tôi hơi nặng mùi triết học.)
Damaso viết, “…I must immediately say that the self is a repeatedly constructed biological state”, tạm dịch, “...Tôi phải nói ngay rằng bản ngã là một sinh trạng được tạo nên do sự quen thuộc lập đi lập lại...” Ý ông cho rằng bản ngã chỉ là một hình thức tạo thành của những thói quen cơ thể (Gần đây ông viết thêm cuốn The Feeling of what happens, trình bày về những khám phá mới trong lãnh vực đi tìm và xác định tâm thức này. Người đọc cũng có thể đọc cuốn The User Illusion của tác giả Tor Norretranders để biết thêm những khám phá mới trong lãnh vực tâm thức.)
Khoa học gia Nicholas Humphrey đã diễu cợt Descartes bằng một câu tương tự “I feel, therefore I am”, “Tôi có cảm giác, vì thế tôi hiện hữu”
Nhà luận lý Keith Devlin, trong cuốn Goodbye, Descartes cũng đã hạ bệ chủ trương duy lý của Descartes bằng những lý luận phản Descartes.
Tôi cũng đã đọc thấy nhiều phát biểu có tính cách “phản Descartes” khác trong những sách khoa học, triết học hiện thời, với những câu tiêu biểu như, “tôi hiện hữu, vì thế tôi suy nghĩ” hay, “tôi cười, vì thế tôi hiện hữu”, “tôi đau khổ, vì thế tôi là”, vv.
Blaise Pascal, một tư duy lớn, cũng đã phát biểu về những “lý lẽ” của trái tim, đi ngược với lý luận của Descartes.
Tuy tâm thức đã được giải thích khá rõ, được phần đông khoa học gia xem như là một hiện tượng đặc biệt của sự sống-epiphenomenon- và tuy nó không còn được một số chuyên gia khoa thần kinh não học hay triết gia xem như một sự huyền bí, nhưng cũng nên nhắc đến nhận định của nhà tâm lý học nổi danh người Anh, Richard Gregory. Ông cho rằng tâm thức là một hiện tượng không thể nào giải thích một cách khoa học, và nguồn gốc của tâm thức có lẽ sẽ không thể nào xác định được.
Triết lý đông phương cho rằng bản chất của vũ trụ là tâm thức và tất cả sự vật lẫn sự việc chỉ là “hiện tượng” của tâm thức hiện thực qua con người. Tôi khá e dè với nhận định này và hiện chưa có thể đưa ra một nhận định nào khả tín. Danh từ qualia của thời cổ để chỉ một đặc tính sự vật, của tâm thức, như mầu xanh của cây cối, màu đỏ của sắc hoa, của những cảm xúc và tình cảm không thể đo đạc. Khoa học hiện tại không thể nắm bắt được ý nghĩa qualitative của sự việc mà chỉ có thể nhận định trên phương diện quantitative. Nhìn một bức tranh, ta thấy đẹp xấu, thích hay không thích, nhưng dĩ nhiên khoa học không làm sao tạo ra được một thứ máy đo để đo cường độ “đẹp xấu” như thế nào hay nụ cười của MonaLisa “bí mật” tới cỡ nào! Thành ra mind và matter vẫn còn là một vấn đề không có lời giải đối với 2 khoa thần kinh não bộ cũng như tâm lý. Theo tôi, một holistic approach để tìm hiểu trí tuệ có lẽ sẽ thành công hơn là reductionistic approach. Đây là phương cách của neuralnetwork theory-thuyết não mạng.
Tôi xin trình bày theo quan điểm của tôi một thí dụ về hiện tượng tổng hợp gọi là tâm thức và quan niệm sai lầm của nhị nguyên luận Descartes. Ta biết muối có vị mặn và muối là một chất hết sức cần thiết cho cơ thể. Ta sẽ chết nếu thiếu muối. Ta cũng biết muối là một hợp chất hóa học của 2 nguyên tố rất độc Na và Cl. Nhưng ta không thể nào phân tích để tìm ra “hiện tượng muối” trong Na hay trong Cl một cách riêng biệt, vì muối là emergent property- hiện tượng hóa học ngẫu hiện tổng hợp- của Na và Cl.
Cùng một suy luận như thế, body hay mind trong nhị nguyên luận của Descartes là hai yếu tố riêng rẽ, tách biệt. Vấn đề nan giải của Descartes: nếu tách rời mind và body, chúng không có nghĩa gì cả. Descartes cũng đã không hiểu gì đến sự liên hệ của thời gian trong ý niệm tâm thức.
Khoa học hiện đại dùng phép phân tích-analytic-và quy giản-reductionism-để xét bản chất và thành phần của một hiện tượng. Đây là triết lý quy giản của khoa học tây phương-philosophy of reductionism-đưa đến những thành quả lớn trong khoa vật lý cũng như những ngành khoa học liên hệ. Đông phương, trái lại, đặt nền tảng tri thức trên triết lý tổng hợp-philosophy of holism-và một phần cũng vì thế mà Đông phương đã không có được một nền khoa học chân chính như Tây phương. Theo tôi, hai bên đều có nhược điểm lẫn ưu điểm có thể bổ túc cho nhau. Nếu phân tích bộ óc Shakespeare để tìm khả năng và tài văn chương trong những tế bào óc của ông thì theo tôi là chuyện vô ích, như nhóm chuyên gia nào đó đã phân tích và mổ xẻ bộ óc của Einstein sau khi ông mất. Tâm thức và trí tuệ không thể được tìm ra qua phương pháp quy giản, vì tâm thức là một kết hợp và diễn tiến của tổng thể trong thời gian, và ý nghĩa của sự việc thường nằm ở trong những hiện tượng có tính cách ngẫu hiện-emergence. Nhưng không có phương pháp phân tích khoa học thì chúng ta chắc chắn sẽ không có nổi một nền kỹ thuật hiện đại, đem đến những tiện nghi tân tiến cải thiện cuộc sống con người.
Theo lý luận tôi trình bày trên, bộ óc là nền tảng nhưng không là tâm thức, cũng như 25 mẫu tự là cấu trúc nền tảng cần thiết cho một thứ quy ước gọi là ngôn ngữ dùng để truyền tin nhưng chúng không là dụng cụ tạo ra văn chương hay ý nghĩa của câu văn. Tạo ra văn chương là khả năng sáng tạo của trí tuệ cùng với những cảm nhận cao độ của những tâm thức độc giả trong thời gian. Những tâm thức với những kinh nghiệm có tính chất đồng cảm của những bộ óc. Một anh Phi Châu sẽ thấy tác phẩm Chiến Tranh và Hoà Bình và bài Dòng sông xanh là một đống giấy vô nghĩa và một chuỗi âm thanh hỗn độn.
Người, theo tôi, là một định nghĩa, một tiến trình và sản phẩm của hoàn cảnh, xã hội và sự phức tạp của môi sinh-ecology, chứ “người” ở đây không là một thực hữu. Cái thực hữu là một khối hữu cơ biết di động bằng hai chân, có ngũ giác, có khả năng tiêu hóa, bài tiết, giao cấu, hấp thụ dưỡng khí và thải thán khí, một tiến trình hóa học không hơn không kém. Nhưng cái thực hữu đó không làm nên cái ta gọi là người. Bộ óc nói chung chỉ là một tiềm năng, một tiềm năng vô dụng nếu không được tiếp cận với thế giới bên ngoài. Đi tìm tâm thức hay linh hồn trong cục hạch pineal như Descartes cũng giống như đi tìm chất “nước” hay sự “ẩm ướt” trong hydrogen hay oxygen. H và O tự chúng hoàn toàn không có chất nước tuy chúng là nền tảng tạo ra nước qua phản ứng hóa học.
Khi vũ trụ này mới thành hình, nó chỉ là một khối hỗn mang vô nghĩa, sự vật và chiều kích không-thời gian không nhất định. Thượng Đế không hề mơ tưởng đến cái gọi làsự sống khi búng tay sáng tạo ra vũ trụ. Con người là một tiến trình bất định, có thể xem đó là một may mắn, chứ người không hề là một dự án theo blueprint của Thượng Đế. Khoa học gia George Wald tuyên bố, “Con người là một sự cải tiến không ngừng của thiên nhiên và môi trường, không phải là một sản phẩm của một quyền năng”
Suy luận về tâm thức, tôi xin mời độc giả hãy nghĩ đến và hình dung ra những hiện tượng và cảm giác quen thuộc sau đây: một tiếng pháo nổ đoàng, một cánh chim vụt bay trên nền trời xanh, một mùi thơm hoa nhài thoang thoảng, một vị chát trong lưỡi, một cảm giác mềm mại khi bàn tay vuốt tấm nhung, một cơn đau thập tử nhất sinh lúc còn bé, khuôn mặt của một người thân quen, một tác phẩm văn chương đã đọc lúc còn trẻ, và một bài hát quen thuộc ngày xưa. Tất cả những sự việc đó xẩy ra trong thời gian. Chúng là những kinh nghiệm tạo nên ta, và phải nói chúng chính là ta, là tâm thức. Sẽ không có cảm giác hiện hữu nếu ta không có khả năng nhớ lại và duy trì những kinh nghiệm ấy vì “ta” chỉ là một tập hợp của những cảm giác và kinh nghiệm cá nhân, một thứ sinh hoạt của não bộ không hơn không kém. Hiện tượng phantom limbs là một bằng chứng mạnh. Những người bị mất tay chân vì tai nạn thỉnh thoảng vẫn còn thấy đau nhói nơi cánh tay hay chân đã bị giải phẫu cắt cụt! Đây là một sự “nhớ nhung” của bộ óc về một sự việc trong quá khứ. Cái cảm giác đau này không là một sự việc “đang xẩy ra”, mà nó chỉ là một “hoạt động, một nhớ nhung” của bộ óc về một kinh nghiệm mà bộ óc đã trải qua.
Những sự việc trong không gian như thế đã đưa đến một hiện tượng trong thời gian gọi là tâm thức. Cũng như sự co dãn bắp thịt của đôi môi đưa đến hiện tượng gọi là nụ cười. Nụ cười là một hiện tượng trong thời gian. Nụ cười đòi hỏi tâm thức và kinh nghiệm để có ý nghĩa. Một sinh vật khôn ngoan ở hành tinh khác chưa từng thấy nụ cười sẽ không hiểu nụ cười là gì. Một anh mọi Phi Châu có thể lờ mờ nhận ra nụ cười và hàm răng trắng của anh da trắng có lẽ là một cử chỉ thân thiện. Tại sao? Vì bộ óc của anh mọi cũng đã trải qua một quá trình tiến hóa chung như của một nhà thám hiểm da trắng mắt xanh. Tuy nhiên, không chừng anh mọi cũng có thể thấy nụ cười của nhà thám hiểm hay một nhà truyền giáo là một hình thức mời mọc, “Mời anh làm thịt và xực tôi!”
Tâm thức sẽ tan biến ngay lập tức một khi bộ óc chết hay bị hư hoại như trong trường hợp bệnh nhân lâm vào tình trạng hôn mê-deep coma-hay những lúc bệnh nhân bị chứng mất trí-total amnesia, hay vào thời kỳ cuối cùng của chứng bệnh hoại não bất trị Alzheimer, khi mà sự sống của bệnh nhân chỉ còn trong tình trạng thực vật, khi mà những motor functions đã chấm dứt vì não bộ đã không còn khả năng ra lệnh điều khiển những hoạt động cơ bản nhất của thân thể.
Khi một hài nhi lọt lòng mẹ, cái khối thịt đỏ hỏn ấy có sự sống và nó là một thực hữu, nhưng nó chưa là người. Não bộ của nó là một bộ máy điện tử chưa được nạp program. Cái ngã chưa hề có, vì tâm thức của hài nhi chỉ mới bắt đầu thành hình. Bản ngã là sự tích tụ do kinh nghiệm dần dà tạo nên. Tâm thức chỉ sẽ thành tựu nếu đứa trẻ đó được phát triển một cách bình thường với một não bộ bình thường trong những hoàn cảnh và môi trường tự nhiên. Một đứa trẻ không tập nói trước khi 12 tuổi sẽ mất đi vĩnh viễn khả năng nói. Một đứa bé nuôi trong lồng kính suốt đời sẽ không bao giờ trở thành người. Một người bình thường bị tước đoạt mất cảm giác của ngũ quan sẽ chết dần vì điên loạn-danh từ khoa học là sensory deprivation. Tarzan là một con thú mang hình người nhưng bản chất và linh hồn chó sói, một sản phẩm gượng ép của thiên nhiên và môi trường sống. Một đứa bé nuôi dưỡng ở Ý và tu tập trong Vatican có thể sẽ thành một Đức giáo hoàng hay một hồng y. Một đứa bé sinh ra ở Tây tạng sẽ có cơ hội trở thành một Đạt Lai lạt ma. Con vua thì lại làm vua, con ông sãi chùa lại quét lá đa. Chúng ta là sản phẩm của tục lệ, của những định chế do xã hội áp đặt.
Buổi sáng thức dậy, vào phòng tắm đánh răng rửa mặt, tôi tưởng tượng nếu nhìn vào gương mà chúng ta không còn khả năng nhận ra khuôn mặt trong gương là ai thì chúng ta sẽ hoang mang tới mức nào. Và sẽ không còn cái hiện tượng gọi là “chúng ta” nữa! Đây là nỗi đáng thương của những người bị chứng hoại não. Cái tôi và khả năng nhận thức cũng như hình dung ra chính mình không còn trong họ nữa. Nghe nói cựu tổng thống Reagan đã mất dần khả năng nhận ra người thân hay chính ông ta vì chứng bệnh Alzheimer.
Tâm thức hoạt động và hiện hữu trong khi ta ngủ, trừ những lúc ngủ cực say, và giấc mơ là một bằng chứng hùng hồn. Mắt nhắm nghiền, nằm yên, miệng ngáy, thế nhưng tâm thức vẫn lay động, vẫn sinh hoạt và hiện hữu qua ngả giấc mơ, và cái “tôi” vẫn có đó, bằng chứng là giấc mơ đang được kinh nghiệm bởi “tôi” Tại sao? Tại vì hàng tỉ neurons vẫn đang khai hỏa trong bộ óc. Một thiền giả có thể nằm mơ thấy lá cờ lay động tuy rằng mắt ông nhắm nghiền. Xin hỏi: cái gì đang thấy lá cờ di động trong một giấc mơ? Trả lời: tâm thức-là cái cảm giác “tôi” của thiền giả. Là hoạt động bình thường của một bộ óc trong một cơ thể tuy đang ngủ.
Thiền giả nói đúng nhưng điều ông nói không giải thích gì thêm cho hai chú tiểu đang cãi nhau. Điều ông thốt ra, “tâm thức đang lay động-the mind is moving” chỉ là một lối nói cốt ý nhấn mạnh vấn đề có tính cách gợi ý, cũng như nói “gió thổi” Gió có nghĩa là sự di chuyển của bầu không khí và chữ thổi đã nằm sẵn trong ý nghĩa của gió. Nói “gió không thổi” là mâu thuẫn, cũng như nói “tâm thức không lay động” là một mâu thuẫn.
Ngoài Descartes ra, một trong những khuôn mặt lớn gần đây cũng đang trên đà mất giálà Sigmund Freud. Ông làm mưa làm gió kể ra cũng được một thời gian, và đã sản sinh ra được một ngành học khá phức tạp: thần kinh tâm bệnh học. Nhưng cũng như Marx và Lenin, Freud đang tuột dốc nhanh chóng và thảm hại. Thần kinh và tâm lý học hiện đại cho thấy Freud sai lầm trên nhiều lãnh vực, từ những ẩn lý của giấc mơ, mặc cảm Oedipus, cho đến vô thức. Khoa thần kinh tâm lý đương thời đã phủ bác những thứ mặc cảm đó. Sang thế kỷ 21, tôi e rằng Freud sẽ chỉ còn là một tên tuổi mờ nhạt trong những ký ức mau quên của con người. Báo LosAngeles Times có đăng một bài khá dài về Freud gần đây với tựa đề, “Freud slips as an icon of science” Tôi xin dịch, “Freud đã không còn được xem như một biểu tượng của khoa học”
Khi ta nhắm mắt thở hơi cuối cùng trong giấc ngàn thu, tâm thức sẽ tan rã như bọt biển tan trong đại dương. Lúc đó, tất cả những neurons ngừng khai hỏa, cảm giác “tôi” và ý niệm thời gian vụt tan như mây khói, và những gì còn lại chỉ là một thân xác hữu cơ bất động đang từ từ mục nát trong không gian vật lý. Cái “tôi” và ý niệm “thời gian-không gian” chủ quan hoàn toàn tan biến, cũng như nụ cười biến mất trên khuôn mặt, chỉ còn để lại những bắp thịt vô hồn. Những câu hỏi “tôi là ai? tôi từ đâu đến? sau khi chết tôi đi về đâu?” vì thế, là những câu hỏi siêu hình hoàn toàn vô nghĩa vì nó đã bị chi phối bằng thứ ngôn ngữ sai lầm của một hệ thống thần học. Hỏi như thế cũng giống như một đứa trẻ ngây thơ nghịch cát biển thắc mắc không hiểu cái lỗ dưới đất nó mới đào bị mất đi đằng nào khi cái lỗ đã được sóng biển lấp đầy cát. Tuy nhiên, bao nhiêu hệ thống thần học và siêu hình học đã được tạo ra chỉ để trả lời mỗi một vấn nạn cỏn con đó: ý nghĩa của sự chết.
Triết gia vô thần Schopenhauer đã phát biểu một sự thật, “Sau khi chết, chúng ta sẽ trở về cái trạng thái trước khi chúng ta sinh ra” Theo ý tôi, câu nói đó của Schopenhauer muốn ám chỉ một trạng thái hư vô, trống rỗng hoàn toàn, một thứ hư vô của triết học. Nó còn là cái tan rã của tâm thức và sự hủy diệt của bản ngã.
Một điều mà tất cả độc giả và Schopenhauer có lẽ sẽ cùng đồng ý đó là sẽ không bao giờ có một thứ kinh nghiệm chủ quan “tôi chưa được sinh ra” hay “tôi đã chết”, vì tôi chỉ là một tiến trình có giai đoạn chứ không tôi không phải là một thực hữu như nhị nguyên luận quan niệm. Một linh hồn tồn tại ngoài cơ thể là chuyện không hề có. “Cái tôi” chỉ là một cảm tưởng chủ quan xẩy ra ngay bây giờ.
Schopenhauer đã có những suy nghĩ tương tự như công án thiền sau đây, “Bản lai diện mục của bạn trước khi bạn sinh ra như thế nào?” Công án này không nhằm đòi hỏi một câu trả lời, dù là một trả lời có vẻ hợp lý. Tìm cách trả lời một công án là không hiểu ý nghĩa của công án. Công án là một phương tiện suy niệm đặc biệt có khả năng lay động, đánh thức và quan trọng nhất: công án là một thứ búa tạ đập vỡ và làm triệt tiêu cái ảo giác “tôi” của người suy nghiệm.
Bạn và tôi lúc nào cũng đang cưu mang trong mình cái “tôi” riêng biệt của mỗi người, nhưng cái tôi đáng ghét hay dễ thương ấy không hề thực hữu. Cái tôi ấy chỉ là một diễn tiến trong thời gian và là tác phẩm giả tưởng của bất cứ một bộ óc nào đó, ngoại trừ những bộ óc điên khùng. Có những bệnh nhân thần kinh tưởng họ là Jesus, Mohamed, Buddha, Napoleon, chỉ vì bộ óc họ đã hỏng. Và cũng có nhiều bệnh nhân thần kinh, những bộ óc bất bình thường của họ tạo ra rất nhiều cái tôi trong mỗi bộ óc-multiple personalities. Như vậy, một “tôi” hay “nhiều tôi” chỉ là những sản phẩm tùy thuộc vào một bộ óc bình thường hay bất thường.
Cái “tôi” nghiệt ngã ấy được triết lý Phật giáo xem là một thứ tiền nghiệp, và người Phật tử được hướng dẫn để có thể sống một cuộc sống vị tha, chừng mực, và hướng tâm hồn đến thiên nhiên cùng tha nhân càng nhiều càng tốt. Có nghĩa là một cuộc sống tránh được cái tôi phù phiếm hư ảo và những tham vọng cá nhân làm khổ chính mình. 20 thế kỷ trước, Chúa Jesus cũng đã có những phát biểu có tinh thần vị tha và hy sinh như, “Love the Lord thy God with all thy heart, with all thy soul and with all thy might and love thy neighbor as thyself” hay, “Be as little children” –“hãy như con trẻ” Chỉ khi nào chúng ta hồn nhiên vô tâm như con trẻ thì chúng ta mới thoát ra khỏi cái bản ngã vị kỷ ràng buộc và phân cách chúng ta với thế giới bên ngoài và người đồng loại chung quanh. Nếu hiểu “ý” Chúa thay vì “lời” Chúa, ghép song song với những khám phá khoa học của thế kỷ 20, thì những phát biểu đó rất cấp tiến và cách mạng của một nhà cách mạng tâm linh, Jesus.
Thời gian là yếu tố tạo nên cảm giác hiện hữu. Nói cách khác, cảm giác hiện hữu là một kinh nghiệm trong thời gian. Tâm thức là thành quả trong thời gian.
Quan niệm linh hồn bất tử của tôn giáo tây phương, qua những khám phá khoa học về sinh lýthần kinh học-neurophysiology-trở thành một quan niệm không còn đứng vững. Bergson với quan niệm elan vitan nổi tiếng ngày nào, nay cũng đã bị bỏ quên.
Trở lại câu chuyện thiền về lá cờ. Lá cờ lay động là một hiện tượng vật lý tạo nên tâm thức qua ngả thị giác, tạo nên những rung động trong hệ thống thần kinh não bộ của chú tiểu. Lá cờ phe phẩy là một diễn tiến xẩy ra trong không gian, nhưng kinh nghiệm lá cờ lay động là một cảm nghiệm sinh lý xẩy ra trong một thế giới cá nhân, trong một bộ óc. Một thân cây đổ tạo nên âm thanh trong một khu rừng vắng, nhưng nếu có người nghe tiếng cây đổ thì một cảm nghiệm sinh lý thính giác đã “tạo nên một tâm thức” trong một bộ óc. Như thế, cái “ngã” chỉ là một khả năng tiếp nhận dữ kiện và một thói quen thường lệ của bất cứ bộ óc nào, khi mà bộ óc ấy còn đang sống.
Triết gia Long Thọ thuộc phái Trung Đạo đã viết một tác phẩm hay vào thế kỷ thứ 2, Thập Nhị Môn Luận, về bản chất của hiện hữu. Độc giả có thể đọc để hiểu thêm về phép biện chứng của Long Thọ trong việc diễn giải bản chất của vũ trụ. Một tiến sĩ vật lý người Anh, David Darling, đã so sánh hai hệ thống: triết lý Tây phương với triết lý Đông phương. Ông cho rằng triết lý Tây phương cũng tương tự như hệ thống hình học phẳng Euclid và triết lý Đông phương cũng như hệ thống hình học cong Riemann. Sự so sánh của ông ám chỉ triết lý tổng hợp Đông phương nắm được ý nghĩa của vũ trụ một cách thâm sâu như Einstein đã khám phá ra qua thuyết tương đối đặt căn bản trên hình học cong, so sánh với cái nhìn cố định, “phẳng”, tùy thuộc nhiều định đề của hình học phẳng trong triết lý Tây phương. Đầu óc duy lý của Tây phương muốn cụ thể hóa, duy vật hóa, và cố nắm bắt tất cả những gì nó quan niệm qua hai vai trò riêng rẽ chủ thể và khách thể.
Triết lý Đông phương, điển hình là Lão Tử, trái lại, xem con người và thiên nhiên là một, là tương quan sâu đậm giữa vạn vật, phản ảnh qua câu nói nổi tiếng của Lão Tử, “những dây thừng thắt chặt nhất là những giây thừng vô hình”
Vai trò Thượng Đế của Tây phương, suy nghĩ kỹ, là một lý luận tối quy giản, vì Thượng Đế được tôn giáo độc thần tây phương xem là giải thích cuối cùng cho tất cả những gì cần phải giải thích, là lý do cuối cùng của tất cả những lý do, là câu trả lời tối hậu cho tất cả những câu hỏi, và là một “quyền năng sáng tạo” ra hiện hữu, sự vật, vũ trụ, nói theo ngôn ngữ Mỹ là “The buck stops here”. Cũng như khoa vật lý đang nỗ lực đi tìm “thuyết cuối cùng” bằng một hệ thống toán cao cấp.
Theo tôi, đây là một khó khăn trầm trọng cho cả thần học lẫn khoa học vì nếu dùng ý niệm Thượng Đế để giải thích hiện hữu thì bắt buộc Thượng Đế phải được đặt ra ngoài những gì ta hiểu là hiện hữu, là những gì bị trói buộc trong không thời gian, và như thế, phát biểu “Thượng Đế tạo ra hiện hữu từ hư vô”-creation exnihilo- tự nó là một thứ trùng phức và phản luận lý. Đó là cái khó khăn mà Augustine đã gặp phải khi ông suy nghĩ về thời gian và tự hỏi, “Thượng Đế làm gì khi Ngài chưa tạo ra thời gian và không gian?” và như thế, những quan niệm tôn giáo như “Thượng Đế có và hiện hữu” là những nhận định có tính cách tự mâu thuẫn về ngôn ngữ.
Đó là một trong những khó khăn nan giải của thần học tây phương, dù là deism hay theism. Từ những khó khăn đó, thần học tìm cách giải quyết vấn đề Thượng Đế qua những quan niệm có tính cách co dãn như pantheism và panentheism hay process theology của triết gia Hartshone. Mục đích: để tránh những mâu thuẫn đã quá lộ liễu đối với trí tuệ con người. Theo tôi, không đi đến đâu và bí mật vẫn hoàn bí mật.
Khoa học vật lý cũng vướng phải một vấn đề nan giải và phải bó tay với ý nghĩa của thời gian. Nếu có một hệ thống phương trình toán nào đó được những trí tuệ phi thường của khoa học khám phá ra và được xem là “thuyết tối hậu” thì hệ thống phương trình ấy cũng không thể nào biến không thành có. Có nghĩa là phương trình ấy hoàn toàn vô dụng trong việc “hiện thực hóa” vũ trụ từ ý niệm toán học của chính nó, mặc dầu nó có thể được xem là có khả năng thống nhất sự hiểu biết về vật lý và có khả năng định đoạt những điều kiện tiên khởi cho vũ trụ hiện thực này. Đó cũng là lý do mà John Horgan đã viết cuốn sách đầy châm biếm The End Of Science, “Cái chết của nền khoa học” Cuốn sách đã gây bực mình không ít cho giới trí thức Mỹ.
Theo tôi, khoa học thành công lớn trong việc đi tìm những tương quan của hiện tượng và tìm cách giải thích những liên hệ chập chùng, nhưng khi đi tìm lý do và nguyên nhân của hiện hữu, thì khoa học đã bước vào địa hạt triết lý và siêu hình, và tôi e rằng khoa học không đủ tư cách và khả năng, vì nó chỉ còn là những ức đoán dựa trên những suy nghiệm thiếu căn cứ và thí nghiệm, dù rằng khoa học gia được trang bị với những vũ khí hạng nặng như thuyết CPT, GUT, hay những ý nghĩa đẹp đẽ hài hòa, hay nguyên lý nhân chủng hay một siêu thuyết gì gì đó.
Bertrand Russell quan niệm vũ trụ tự hữu không cần lý do. Vũ trụ chỉ được xem là một hệ thống tương quan phức tạp cũng như con người là một tương quan phức tạp. Những tương quan phức tạp giữa sự việc là hiện hữu. Tương quan làm nên vật chất. Vật lý hiện đại xem vật chất là một hình thức cô đọng của năng lượng, và năng lượng được xem là một tương quan của những co dãn và méo mó của không thời gian 4 chiều. Những tính chất dương của vật chất được quân bình hóa với tính chất âm của trường hấp lực, và như thế, trên phương diện kế toán, vũ trụ là một con số không to lớn trong đó âm và dương triệt tiêu lẫn nhau, và không cần một bàn tay của một ông thần nào đó tạo nên. Vì tổng thể vũ trụ có thể là zero. Phương trình của Einstein về matter-energy là một cái chìa khoá khám phá bí mật và cũng đồng thời là một điều kiện hết sức nghiêm nhặt không thể nào có thể du di được.
Bản thể-Ontology, theo suy nghĩ của tôi, chỉ là một từ ngữ ngộ nhận của triết học.
Trong thế giới của những thuyết vật lý cao cấp, yếu tính là cái tạo ra hiện hữu và bản thể. Từ yếu tính dẫn đến bản thể. Một hạt electron không có bản thể trong không thời gian, mà chỉ có những yếu tính-properties- có thể đo lường, từ đó dẫn đến một “bản thể” ta gọi là electron. Những yếu tính ấy là điện tích, vòng quay và khối lượng (charge, spin, mass) Cao hơn thế nữa là những quan niệm về fields-trường, và quan niệm về tính chất đối xứng-symmetries. Những quan niệm này “thật” nhưng “không thật”, và đã trở nên quá khó khăn để có thể hình dung hay nắm bắt bằng thứ ngôn ngữ thường ngày. Phải là những chuyên gia vật lý am tường những ngành toán như “group theories” mới hiểu được ý nghĩa của symmetries.
Nếu tôi nhớ không lầm thì có một triết gia nào đó đã cho rằng hư vô chính là ý nghĩa cao quý nhất của Thượng Đế. Một trạng thái phi hữu. Nếu thế thì tôi suy luận và cho rằng có lẽ khoa học và triết học đã vô tình gặp nhau ở điểm đó. Hư vô, trên phương diện vật lý, có thể được xem là trạng thái toàn hảo nhất, vì hư vô chứa đựng nhiều cân xứng nhất (Nothingness possesses the most symmetries)
Chúng ta là những sinh vật bất toàn, hữu hạn, mất đối xứng, bất quân bình giữa âm và dương, là những mảnh vỡ vụn còn sót lại của một “cái gì đó” nguyên thủy vô hình và bất hữu.
Ngoài vũ trụ, nếu có, là những gì bất biến của toán học và luận lý, một thế giới Platonic và transcendental. Vì thế, Thượng Đế, toán học, luận lý, tuy khác tên nhưng có cùng một bản chất và ý nghĩa, ở trong một “thế giới phi vật chất” không tùy thuộc và không bị chi phối bởi những phạm trù “có” hay “không có”
Tôi hy vọng độc giả sẽ không phàn nàn tôi vì những thứ ngôn ngữ bóng tôi dùng trong bài.
Một điều tôi thích ở triết lý Đông phương là sự xóa bỏ ranh giới nhị nguyên giữa “không” và “có”, giữa “quan sát viên” và “sự việc được quan sát”-observer and the thing observed. Nó có tính cách thực tiễn, loại trừ những vấn đề mang tính chất siêu hình, và xem vũ trụ là một hệ thống tương quan thay vì một thiên lệnh của một đấng vô hình nào đó. Vì thế, trong triết lý Phật giáo không có ý niệm thần thánh hay linh hồn là lý do đó. Triết lý Đông phương là một triết lý của những tương quan sự việc gọi chung là duyên và nghiệp, của những hệ lụy nhân quả. Triết lý của Phật giáo nhắm phá tan cái bản ngã vô thường và cái tham sân si của con người ngay trong khi còn sống, trái lại, triết lý thần học Tây phương là một triết lý duy trì cái bản ngã mơ hồ và ý niệm linh hồn không thực hữu của con người ngay cả sau khi thân xác hữu cơ đã chết.
Heisenberg, vật lý gia tiền phong và là triết gia ảnh hưởng Phật giáo, có những suy nghĩ giống như sư Long Thọ về bản chất của hiện hữu. Trong cuốn sách nổi tiếng, Vật Lý và Triết học, Heisenberg đã viết,
“The world thus appears as a complicated tissue of events, in which connections of different kinds alternate or overlap or combine and thereby determine the texture of the whole.”
Tôi xin tạm dịch, “Vũ trụ hiện hữu như một tập hợp phức tạp của những biến cố xẩy ra, những tương quan và liên hệ khác nhau của sự việc đã tác động lẫn nhau, xen kẽ cũng như cộng hưởng, và từ đó đưa đến tính chất thực tại cho tổng thể”
Nếu thần học và siêu hình học đặt câu hỏi “vũ trụ từ đâu đến?” thì khoa học cũng có những câu hỏi, “những điều tiện tiên khởi nào đưa đến vũ trụ hiện hành?” trong khi đó, một thiền giả khi đối diện với những câu hỏi đó, tôi chắc ông sẽ đưa ra những câu “trả lời” vô thưởng vô phạt như, “cây tùng trước sân”, “đống phân”, “đám mây trắng trên trời” hay một câu nói nào đó hoàn toàn không có tính cách trả lời. Làm sao thiền giả có thể trả lời một câu hỏi mà tự bản chất câu hỏi đó đã là một vô nghĩa? Nếu triết học và khoa học tây phương bế tắc, tôi nghĩ vì chính nó đã tự dồn nó vào chân tường. Thần học đi tìm giải thích ở một Thượng Đế tuyệt đối, khoa vật lý đi tìm thuyết sau cùng gọi là Theory of Everything để giải thích tất cả những gì hiện hữu, nền triết học khổ sở đi tìm “thực tại đích thực tối hậu” của hiện hữu qua lý luận và ngôn ngữ, và theo tôi, bế tắc vẫn hoàn bế tắc. Triết học còn sa lầy một cách đáng thương hơn ở chỗ là nó đã được đặt nền tảng trên những lý luận dựa theo kiến thức cổ điển, mà ngôn ngữ tự nó đã là một thứ khí cụ quá cũ mòn và thiếu chính xác. Hãy nghe đại vật lý gia Niels Bohr khinh bỉ cả một nền triết học tây phương qua phát biểu thẳng thừng của ông, “tất cả những gì triết gia từng thốt ra chỉ là trò nhảm” -chữ “trò nhảm” tôi dịch từ chữ “pure drivel”
Khi mà nhân loại đã theo khoa học tiến vào thế kỷ 21, điều đáng tiếc là triết học tự bản chất vẫn còn dậm chân tại chỗ và còn đang ngụp lặn trong vũng bùn lầy ngôn ngữ của thế kỷ 15, 16, 17, 18. Có thể ví von-một cách hỗn xược- triết gia như là những chú chuột nhắt chạy không ngừng trong một chiếc lồng vòng tròn làm bằng ngôn ngữ.
Để tạm chấm dứt câu chuyện về tâm thức, tôi xin kể với độc giả một kinh nghiệm nhỏ đã xẩy ra cho chính tôi. Không ai trong chúng ta có “kinh nghiệm” chết nó như thế nào vì chúng ta... chưa chết, vì sự chết không thể được xem là một kinh nghiệm mà sự chết chính là sự tan biến của cảm giác và kinh nghiệm cá nhân cũng như tất cả những ký ức tồn đọng trong bộ óc mỗi người. Độc giả ai cũng đã từng có những lúc ngồi xổm lâu dưới đất, khi chống tay đứng dậy thường cảm thấy hoa mắt và chóng mặt, đầu óc xây xẩm, nhất là với những người bị thiếu máu. Tôi nghĩ lúc sắp chết cũng như thế, khi mà bộ óc không còn đủ oxygen do hai lá phổi cung cấp vì sức lực không còn đủ để mà thở.
Có một lần tôi mải mê ngồi nhổ cỏ dại ở sân nhà lúc buổi sáng khi bụng đói cào, đến lúc vươn vai đứng bật dậy, tôi choáng váng hoa mắt ngã lăn ra trên đám cỏ, đầu óc hôn mê, bầu trời quay vòng vòng! Ngất đi khoảng 2, 3 phút tôi mới tỉnh lại. Trong lúc ngất đi như thế, cái tôi không hiểu đi vắng chỗ nào! Tôi chợt nhận ra một cách rõ ràng là cái tôi và tâm thức chỉ là một cảm giác của bộ óc lúc bộ óc còn đủ oxygen để mà hoạt động, chứ không là gì khác hơn. Cái tôi chỉ là một thứ ảo tưởng vĩ đại!
Sau kinh nghiệm đó, tôi tự kết luận: Chết, đối với một cá nhân, là hết!
Rất tiếc cho Descartes, khoa học đã cho thấy ông đã sai. Linh hồn theo quan niệm nhị nguyên của ông, với những danh từ như res extensa và res cogitans ông đã đặt ra, cũng như linh hồn theo quan niệm siêu hình của thần học tây phương nói chung, chỉ là những ý niệm không thực. Linh hồn nên được hiểu là tấm lòng vị tha, một trái tim mở rộng, và khả năng sống tích cực của mỗi người hơn là một thứ vô hình tướng tạo ra sự sống trong một thân xác như Descartes quan niệm.
Tôi đã khá dài dòng về tâm thức và cái chết. Xin lỗi độc giả. Đến đây, tôi xin trở lại với ông bạn thời gian.
Khoa học gia đã nghĩ đến thời gian một cách khách quan từ nhiều thế kỷ nay. Đong, đo, đếm, tính toán là công việc chính của khoa học. Chu kỳ là một danh từ quen thuộc gắn liền với ý niệm thời gian. Học trò ai cũng biết những chuyển động chu kỳ như con lắc, lò xo co dãn đàn hồi, đã học qua trong lớp vật lý thời trung học. Học, nhưng hình như không mấy ai suy ngẫm về nó.
Biến dịch, vô thường, thay đổi, chuyển hóa, tiến trình, diễn tiến: những từ quen thuộc để chỉ sự thay đổi của sự vật và sự việc trong thời gian. Mặt trăng quay chung quanh trái đất một tháng một vòng, trái đất quay chung quanh mặt trời mỗi 365 ngày, Thái Dương Hệ quay chung quanh một cánh của giải ngân hà 200 triệu năm mỗi vòng, giải ngân hà quay theo hình xoắn ốc trong một hệ thống thiên hà phức tạp chưa thể ước tính nổi chu kỳ. Những sự việc này có tính cách tuần hoàn, tái diễn, và thời gian là một thứ khoảng cách có thể đo được, chu kỳ hóa được. Nó còn được hiểu là một chiều đặc biệt của vũ trụ.
Khoa học là một hệ thống định lượng. Khi nhìn vào không gian vô biên vô tận, khoa học gia tự hỏi: vũ trụ này có chu kỳ của nó không? Nếu có thì bao nhiêu lâu? Thế nào để được xem là một chu kỳ? Khi quan sát một phản ứng hạch tâm hay một phản ứng lượng tử như trong vật lý vi hạt, khoa học gia lại cũng tự hỏi: chu kỳ của phản ứng này bao lâu? Khoa học gia không ngừng tìm tòi xem chu kỳ nào ngắn nhất của một sự việc cho đến chu kỳ nào được xem là dài nhất.
Trong thế giới vi mô cực tiểu của nguyên tử, có một định lượng thời gian cực nhỏ không thể phân chia được theo những hiểu biết hiện hành, gọi là Planck time. Planck time là một lượng thời gian cơ bản làm chuẩn và nó là một trong 3 chuẩn lượng cho vật lýnguyên lượng: Planck time, Planck mass, Planck dimension. Chúng có trị số cực nhỏ. Có thể nói chúng là “giới hạn sau cùng”
Trong thế giới thường ngày, chúng ta dùng hai hệ thống đo lường “mks” và “cgs”, trong đó mẫu tự s viết tắt của chữ second, tức giây đồng hồ. Một giây đồng hồ cách đây không lâu được xác định bằng những rung động-resonances- của nguyên tử cesium. Cứ mỗi 9,192,631,770 chu kỳ rung động của nguyên tử cesium thì giai đoạn đó được quy định là một giây. Trong tương lai, có thể sẽ có những tiêu chuẩn định giờ giấc chính xác hơn, như chu kỳ vòng quay của những thiên thể gọi là pulsars.
Giữa cái cực đại và cực tiểu của sự việc, con người có lẽ quen thuộc hơn với những chu kỳ “ngắn hạn” như 100 năm kiếp người (trăm năm trong cõi người ta), 280 ngày (giai đoạn thai nhi), 11 ngày (mặt trời quay tròn được một vòng), 8 phút đồng hồ (ánh sáng từ mặt trời bay đến quả đất), 3 phút (một hiệp quyền anh), .2 giây đồng hồ (nháy mắt), vân vân.
Lúc còn bé tôi được cắt nghĩa câu nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, tôi không hiểu rằng đây chỉ là một cảm tưởng tâm lý. Tại sao một ngày ở tù dài bằng một ngàn năm ở ngoài? Tôi không thể nào hình dung ra được chuyện ấy. Sau này, khi đọc đến thuyết tương đối, mới thấy chuyện ấy có thể xẩy ra, với điều kiện cái nhà tù ấy phải bay rất nhanh! Tôi xin đổi lại: nhất nhật tại phi thuyền, thiên thu tại địa cầu.
Stephen Hawking là một khuôn mặt lớn của vật lý lý thuyết hiện đại. Bị giam hãm gần nửa đời người trên một chiếc ghế lăn vì chứng bệnh bại liệt bất trị Lou Gherig, ông là một phế nhân trên phương diện thể chất. Tuy tàn phế nhưng điều may là trí tuệ ông vẫn còn minh mẫn. Ông đã tư duy nhiều đến ý nghĩa thời gian. Ông cùng một đồng nghiệp đã đưa ra một số quan niệm về nguồn gốc của thời gian, như thời gian ảo-imaginary time- và no boundary condition-trạng thái vô biên cương của không-thời gian. Ông đã đưa ra một giải thích một cách cụ thể dễ hiểu bằng một ví dụ để độc giả có một ý niệm thời gian có thể đã bắt đầu như thế nào. Ông dẫn giải như sau: chúng ta là những sinh vật sống trên một quả cầu lửng lơ trong không gian. Chúng ta đặt ra quan niệm phương hướng như “đông, tây, nam, bắc, trước, sau, trái, phải, trên, dưới, ngang, dọc, trong, ngoài” để giúp chúng ta trong việc xác định vị trí. Hãy tưởng tượng bạn đang đứng ở một điểm nào đó phiá bắc đường xích đạo. Ở vị trí của bạn có 4 phương tám hướng rõ rệt. Lấy ví dụ nếu cứ đi mãi về hướng bắc, thì cho đến một lúc nào đó ta sẽ đặt chân đến một điểm gọi là điểm cực bắc tại bắc bán cầu. Có một sự lạ: ở điểm cực bắc thì cái gọi là hướng bắc bị triệt tiêu. Cực bắc được hiểu là một địa điểm mà ở nơi đó bất cứ di chuyển một bước chân nào thêm nữa cũng làm ta đi về hướng nam. Như thế cực bắc chỉ là một định nghĩa không hơn không kém, không hề là sự thật. Đứng ở điểm cực bắc, câu hỏi “đâu là đông, đâu là tây, đâu là bắc đâu là nam” sẽ trở nên thừa vì ở tại cực bắc bất cứ hướng nào khác cũng là hướng nam. Sẽ không có hướng bắc hay đông hay tây của điểm cực bắc, cũng như sẽ không có hướng nam của điểm cực nam.
Hawking đã áp dụng thí dụ này vào quan niệm thời gian để giải thích sự bắt đầu của nó. Ông nói rằng một khi ở tại một thời điểm nào đó của vũ trụ, thì những câu hỏi như “Trước khi vũ trụ xẩy ra” hay “Vũ trụ từ đâu đến” hay “Thời gian bắt đầu từ lúc nào?” là những câu hỏi vô nghĩa, cũng như đứng ở cực bắc và hỏi đâu là hướng bắc. Sẽ không có hướng bắc vì bắc chỉ là một quan niệm.
Những tiến trình của cái khối hỗn độn gọi chung là vũ trụ mang đến quan niệm thời gian, cũng như những tiến trình của não bộ mang đến cái cảm giác hiện hữu.
Entropy là một quan niệm gắn liền với nhiệt động học, một ngành quan trọng của vật lý. Nó là một môn học có một tính chất đặc biệt: Nó là môn duy nhất chứa đựng mũi tên thời gian trong những tiến trình vật lý. Những quan niệm như entropy và time-asymmetric dịch ra tiếng Việt tương đối khó khăn, nhưng muốn hiểu ý niệm thời gian, những quan niệm này cần phải được nắm vững. Entropy có thể hiểu như một định lượng chỉ sự hư hoại, trái nghịch với sự hữu ích. Trong một nguồn năng lượng, entropy càng ít càng tốt. Kỹ sư Sadi Carnot của Pháp đã thí nghiệm nhiều với máy xử dụng nhiệt (heat engine) Cùng thời với ông là một khoa học gia người Đức, Rudolf Clausius, và Rudolf được xem là cha đẻ của quan niệm entropy.
Quan niệm entropy có thể được giải thích qua một vài thí dụ sau đây:
_Một ly nước đá lạnh và một ly nước sôi. Sau khi để chúng ra ngoài không khí, chúng sẽ tăng và giảm nhiệt độ cho đến khi chúng trở thành nước nguội. Entropy của ly nước nguội sẽ lớn hơn ly nước sôi, vì ly nước sôi có thể dùng vào việc luộc trứng trong khi đó nước nguội mất đi khả năng đó. Như vậy, entropy là một sự phản dụng ích của một hệ thống.
_Ánh sáng mặt trời làm cho cây cối phát triển và đơm bông kết trái do phản ứng của diệp lục tố. Ta ăn trái bắp và ta có trong người một số năng lượng. Ban đêm, ta cưỡi xe đạp, bắp thịt ta hoạt động trong khi đạp bánh xe, bánh xe cà sát vào bình dynamo và tạo thành dòng điện. Dòng điện này làm cho đèn gắn ở mũi xe sáng, rọi đường cho ta đi. Ánh sáng mặt trời đã trở thành ánh sáng rọi đường ban đêm sau khi trải qua một chuỗi phản ứng hóa học khá phức tạp. Có một điểm rất khác biệt: Ánh sáng mặt trời thuộc loại entropy nhỏ, trong khi đó, ánh sáng đèn điện có entropy lớn. Anh sáng mặt trời như thế có giá trị dụng ích cao hơn ánh đèn điện.
_Một nguồn năng lượng nào đó, nếu entropy càng nhỏ càng có giá trị. . Một bình xăng có một entropy nhỏ, bình xăng ấy được xử dụng và sau khi biến thành nhiệt, entropy trở nên cực đại. Nhiệt năng là hình thức cuối cùng và hỗn loạn nhất của năng lượng.
_Một cỗ bài 52 lá mới bóc ra sẽ có một entropy nhỏ hơn một cỗ bài đã đựơc xào đi xào lại sau những canh bạc. Như thế, entropy còn đựơc hiểu như một sự mất trật tự trong một hệ thống. Càng trật tự càng giá trị, càng lộn xộn hỗn độn, tức là càng nhiều entropy và như thế càng ít giá trị.
_Entropy còn được xem là phản nghĩa với information-tạm dịch là tin tức. Tuy nhiên, chữ information mang một ý nghĩa khá đặc sắc trong vật lý, khác với những xử dụng thường ngày.
Vũ trụ lúc khởi đầu có một entropy nhỏ hơn bây giờ. Và mũi tên thời gian tiềm tàng trong những điều kiện đầu tiên của vũ trụ-initial conditions. Nó cho thấy càng ngày, tổng số entropy của vũ trụ càng tăng, cho đến ngày nào đó, entropy của vũ trụ sẽ tăng đến mức cực độ, và vũ trụ sẽ không còn tiến triển hay hoạt động nổi nữa. Quan niệm này đưa đến quan niệm “heat death” “chết vì lạnh”, một trạng thái khi mà tất cả những tiến trình hóa học, hạch tâm, lượng tử sẽ phải chấm dứt. Điều này là một hậu quả của luật thứ 2 nhiệt động học (Cơ học lượng tử tiên đoán trong tương lai xa vời của vũ trụ vật chất, tất cả những gì còn lại trong vũ trụ này chỉ là bức xạ-radiation- với những lỗ đen cực nhỏ-micro black holes- rải rác đây đó trong cái vô biên vô hạn của không thời gian)
Vũ trụ sẽ thực sự “chết” và thời gian sẽthành vô nghĩa khi tất cả những tiến trình lượng tử chấm dứt. Một khoảng thời gian cực kỳ xa vời được ước tính vào khoảng con số 10 lũy thừa 10 lũy thừa 80 năm. Đến lúc đó, entropy đã gia tăng đến mức cực độ và nhiệt độ còn lại của nền bức xạ sẽ là “1 chia cho 10 lũy thừa một triệu” độ Kelvin.
(Muốn “đi ngược” mũi tên thời gian để tái tạo lại vũ trụ, hay muốn làm cho tổng thể entropy trong vũ trụ giảm xuống, con người phải có khả năng thay đổi cấu trúc kỷ hà căn bản của vũ trụ-manipulating the spacetime geometry. Điều này chắc chắn sẽ không xẩy ra trên thực tế, chỉ xẩy ra trong những chuyện khoa học giả tưởng và trong phim trường Hollywood)
Như thế, bằng những quan sát khoa học, mũi tên thời gian-the arrow of time-đã được tìm ra qua nhiệt động học. Vũ trụ có chiều hướng thời gian của nó. Chiều hướng đó là sự biến đổi từ trạng thái entropy nhỏ cho đến trạng thái entropy lớn. Từ tạo thành cho đến hủy hoại và tan rã.
Khủng hoảng lớn nhất và sai lầm lớn nhất của khoa học Newton có liên quan đến ý niệm thời gian. Đó là 2 quan niệm simultaneity và instantaneity, tôi xin tạm dịch là quan niệm về tính chất “đồng thời” và tính chất “ngay lập tức”
Thứ nhất, vì vận tốc cực nhanh của ánh sáng, ta tưởng mọi sự việc chung quanh ta đang xẩy ra cùng một lúc, và đó là một sai lầm của trực giác. Những gì xẩy ra “ngay bây giơ” chỉ có ý nghĩa đối với từng cá nhân một vì tôi không thể nào dùng chữ “đồng thời” cho những gì cách tôi quá xa. Không như Newton suy nghĩ, những gì cách xa tôi trong không gian cũng là những gì cách xa tôi trong thời gian. Cái cảm giác đồng thời chỉ có thể xẩy ra cho những gì gần sát bên tôi. Nếu giả sử mặt trời tự nhiên “biến mất ngay bây giờ” thì khoảng tám phút sau trái đất mới bị tối sầm lại và cũng lúc đó trái đất mới bị văng ra khỏi quỹ đạo vòng tròn của nó để mà đi theo chuyển động thẳng. Lý do: tám phút là số thì giờ cần thiết để ánh sáng bay đến địa cầu và cũng để cho độ cong của nền không gian trở thành zero sau khi mặt trời biến mất (Khi độ cong của nền không gian trở thành zero, mọi vật sẽ di chuyển theo đường thẳng Euclidean như Newton đã chứng minh)
Một ví dụ khác khá dài dòng: Giả sử có những loài tinh khôn sống ngoài địa cầu ở những khoảng cách xa gần khác nhau, nếu họ có những viễn vọng kính khổng lồ và cực mạnh, họ sẽ thấy gì nếu họ hướng viễn vọng kính đó về Thái Dương Hệ của chúng ta?
Thứ nhất, một loài tinh khôn cách xa trái đất khoảng 5 tỉ năm ánh sáng sẽ không thấy quả đất, mà chỉ thấy một đám bụi vẫn thạch lớn đang xoay tròn. Đám bụi này cách một ngôi sao gọi là mặt trời khoảng 93 triệu dặm. Đối với họ, họ sẽ nghĩ rằng, “một ngôi sao đang phát ánh sáng và một số hành tinh chưa thành hình”
Thứ hai, một loài tinh khôn khác cách trái đất 4.5 tỉ năm quan sát viễn vọng kính sẽ thấy một khối tròn nóng đỏ có hình cầu quay từ từ chậm chạp, cứ khoảng năm tiếng đồng hồ quay được một vòng. Họ kết luận rằng, “hiện giờ, một hành tinh đang thành hình”
Thứ ba, một loài tinh khôn khác sống cách trái đất 650 triệu năm ánh sáng nếu quan sát viễn vọng kính họ sẽ thấy trái đất đầy nước, thảo mộc và những vi sinh vật thể mềm khắp mọi nơi. Họ vui mừng tuyên bố, “đang có sự sống ở một hành tinh xa lạ”
Thứ tư, một loài tinh khôn ở cách trái đất khoảng 65 triệu năm ánh sáng nhìn viễn vọng kính về trái đất, họ sẽ thấy bao nhiêu loài khủng long đủ loại đang bò lổm ngổm khắp quả địa cầu. Nhưng nguy thay, họ vô tình khám phá ra một vẫn thạch khổng lồ đường kính dài hơn 10 dặm đang bay lạc vào quỹ đạo trái đất! Sau đó, nếu họ tiếp tục theo dõi, họ sẽ chứng kiến một cảnh tượng tận thế đang xẩy ra trên trái đất: trái đất bị tảng vẫn thạch đâm vào ở gần vịnh Mễ Tây Cơ, sức tàn phá tương đương hàng trăm triệu quả bom nguyên tử Hiroshima. Sau đó, loài khủng long bị tiêu diệt, bầu trời trở thành tối đen vì bụi vẫn thạch, hầu hết sự sống trên địa cầu bị tận diệt, chỉ trừ một số thú có vú và một số bò sát cũng như cá biển còn sống sót (loài người sở dĩ có mặt ngày hôm nay là cũng nhờ tai biến vô tình này)
Thứ năm, một loài tinh khôn ở cách xa đây trên dưới 2500 năm ánh sáng nhìn viễn vọng kính, họ sẽ thấy trái đất có sự sống có tổ chức. Họ sẽ thấy Vạn Lý Trường Thành đang được xây cất, và nếu nhìn về một chỗ nào đó ở Ấn độ, rất có thể họ sẽ thấy Đức Phật đang thuyết pháp hay đang nhập niết bàn...
Thứ sáu, tương tự như trên, một loài tinh khôn cách đây hơn kém 2000 năm ánh sáng có thể thấy Chúa Jesus ra đời trong một máng cỏ hay đang giảng đạo hay bị hành hình trên thập tự giá...
Thứ bảy, một loài tinh khôn sống trên một hành tinh cách đây khoảng 60 năm ánh sáng đang chứng kiến cái gọi là thế giới đại chiến thứ hai đang diễn ra...
Cuối cùng, tôi đang ngồi viết những giòng chữ này vào một thời điểm gọi là tháng 10 năm 2000 tại California.
Tất cả những loài tinh khôn đó đang có cùng những cảm nghiệm cá nhân “ngay bây giờ” như tôi, nhưng không một ai chứng kiến cùng một sự việc. Sự phân cách trong không gian giữa tôi và họ đã trở thành sự phân cách trong thời gian. Cái hiện tại của tôi trong lúc này trở thành những cái trong tương lai đối với những loài tinh khôn khác trong vũ trụ, và cái quá khứ của tôi đang dần trở nên những sự kiện hiện tại đối với họ.
Và như thế, cả một nền triết học và cơ học của Newton về không thời gian đã trở thành sai lầm, thay vào đó, không thời gian là một khối quyến thuộc duy nhất-space time continuum-và vận tốc tuyệt đối của ánh sáng trong vũ trụ đã làm thay đổi và “tương đối hóa” những ý nghĩa thâm sâu nhất của thời gian và hiện hữu.
Vì thế, có thể tạm kết luận: cảm giác thời gian cũng như tâm thức (hay còn gọi là thức giác) không tự hữu hay có một giá trị hiện hữu tuyệt đối, mà chỉ là những epiphenomena-hiện tượng tùy thuộc vào ngoại cảnh và diễn tiến của sự việc.
Trên đây là một số ý kiến thô thiển của người viết về tâm thức và thời gian viết dựa theo những sách khoa học quen thuộc, xin gửi đến quýbạn đọc.
Nguyễn Hùng Vũ.
TB: Sự bí ẩn của ý niệm thời gian càng gia tăng khi vật lý gia suy nghiệm đến những vị trí bất không thời gian như trong tâm điểm của một lỗ đen, ở một nơi có tính chất vĩnh hằng. Một chiếc đồng hồ đặt ở một điểm cạnh lỗ đen sẽ ngừng chạy, không phải vì hết pin hay hư máy, mà tại vì ảnh hưởng hấp lực đã trở nên cực điểm và ngay chính ánh sáng cũng không vượt thoát nổi sức hút vô biên của trường hấp lực. Những khám phá mới về black holes cho thấy black holes có thể chứa đựng những bí mật sâu thẳm của vũ trụ.
Thời gian gắn liền và là thước đo tất cả diễn tiến sự việc, chi phối từ một hạt điện tử vô hình cho đến cuộc đời một anh phó thường dân như tôi cho đến Thượng Đế cao siêu trên trời.
Tôn giáo thường quan niệm Thượng Đế hiện hữu ngoài thời gian. Nhưng thế nào là “hiện hữu ngoài thời gian”? Tôi tự hỏi phải chăng đây chỉ là một hình thức đùa nghịch với chữ nghĩa? Hơn nữa, quyền năng phi thường như Thượng Đế tại sao Ngài lại phải vất vả đến những sáu ngày mới hoàn tất xong cái sản phẩm lắm chuyện gọi chung là vũ trụ? Phải chăng thời gian chi phối cả đến Thượng Đế, một khi Ngài đã nhúng tay vào việc phàm trần?
Thời gian giống như là một diễn viên vô hình trong thế giới hữu hình, mang nhiều bộ mặt trái ngược nhau: tạo dựng và tàn phá, tĩnh và động, âm và dương, âm thầm và sôi động, bất biến và chuyển biến. Thời gian có sức làm nguôi ngoai quên lãng tất cả mọi sự nhưng cũng có khả năng tạo niềm thương nỗi nhớ. Thời gian có sức hủy phá khủng khiếp nhưng ngược lại cũng có khả năng hàn gắn, xây dựng, và tái tạo. Ai từng say mê trước khung cảnh hùng vĩ phi thường của thung lũng Grand Canyon và dòng sông Colorado uốn khúc, ai đã từng lặng người trước những đỉnh núi cao chót vót vượt trời xanh trong rặng Sierra Nevada đều phải nhìn nhận không ai khác nhưng chính thời gian đã là tác nhân, là yếu tố làm nên tất cả những gì vĩ đại, những gì cao siêu huyền bí trong vũ trụ, trong đó có sự sống.
Vậy thời gian làgì? Có thể hỏi một cách có ý nghĩa những câu hỏi như : thời gian “bắt đầu” từ lúc nào và sẽ “chấm dứt” vào thời điểm nào? Triết gia có thể nói một cách có ý nghĩa như thế nào về nó? Khoa học gia có thể nắm bắt nó như thế nào trong phòng thí nghiệm?
Bàn về thời gian là một chuyện khá dài dòng, mơ hồ. Từ cổ Hy Lạp cho đến thời Phục Hưng sang đến thời cận đại, khoảng thế kỷ 15, 16, thời gian đã là một trong những đề tài suy tưởng của triết học và siêu hình học. Thánh Augustine đã từng nổi tiếng với câu than vãn, “Nếu không ai hỏi, thì tôi có cảm tưởng tôi biết thời gian là gì, nhưng nếu hỏi thì tôi lại không có khả năng giải thích nó là thế nào” Heraclitus đã nói ta không thể nào đặt chân 2 lần vào cùng một dòng sông, chủ ý nói đến sự thay đổi vô thường và tính chất đoản kỳ của vạn vật.
Augustine, Heraclitus chỉ là 2 trong bao nhiêu danh nhân đã từng thắc mắc về ý niệm thời gian. Nhà văn Aldous Huxley từng nhận xét rằng sản phẩm ý nghĩa nhất của thế kỷ 20 là “tốc độ” mà tốc độ ám chỉ thời gian. Văn gia H.G. Wells nổi tiếng qua tác phẩm giả tưởng “Bộ máy thời gian” cuối thế kỷ 19. Văn gia Dickens cũng đã đề cập đến thời gian. Nhà thiên văn Timothy Ferris cho rằng 3 khám phá lớn nhất của thế kỷ 20 là: không gian, thời gian, và sự tự phát hiện ra cái dốt của con người. Khoa học gia Galileo được xem là vĩ nhân đầu tiên đã mặc cho thời gian chiếc áo khoa học khi ông thí nghiệm tìm tốc độ của những vật rơi thẳng đo bằng một thứ đồng hồ nước. Charles Darwin, ông tổ thuyết tiến hóa, cho thấy thời gian là diễn viên ngoài lề nhưng quan trọng của những đổi thay vật chất, trong đó sự sống và tâm thức trở thành hiện hữu qua những biến đổi không ngừng của vật chất vô tri giác trên quả địa cầu mà yếu tố chính không ai khác hơn là thời gian. Tri thức luận của Kant xem thời gian là một thứ cảm quan tiên nghiệm cần có, cũng tương tự như quan niệm của toán gia Leibniz, một kỳ phùng địch thủ của Newton.
Newton xem không gian và thời gian như là một thứ sân khấu cố định và khách quan, một điều kiện cần thiết cho hệ thống cơ học về chuyển động của ông. Bác học Einstein sâu hơn Newton một nấc. Ông cho rằng thời gian mang một ý nghĩa vật lý đặc biệt khác với quan niệm của Newton. Theo Einstein, thời gian có thể co dãn nhanh hay chậm và có thể ngừng lại, tùy theo vận tốc của sự vật và không thể nào tách rời thời gian ra khỏi không gian. Với Einstein, không thời gian trở thành một khối duy nhất.
Sau cùng, khoa vật lý hiện đại còn đi sâu hơn một nấc nữa khi cho rằng thời gian và không gian chỉ được dùng như những phó sản phụ thuộc trong việc diễn giải thiên nhiên bằng một hệ thống toán học mới với những lý thuyết mới, trong đó không-thời gian chỉ có giá trị như một hình thức ước lượng. Điều này có nghĩa: thời gian và không gian bị mất đi địa vị nền tảng của nó.
Trong thánh kinh Cựu Ước, Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ bằng một thiên lệnh khởi đầu: Fiat lux -Hãy có ánh sáng- Điều này, hiểu theo nghĩa vật lý, cho thấy ánh sáng có một địa vị hết sức đặc biệt trong vũ trụ vật chất. Khởi đầu ở đây không có nghĩa là bắt đầu, mà ánh sáng được xem là có một nền tảng căn bản quan trọng ngang hàng ý niệm về thời gian lẫn không gian. Không có ánh sáng thì không có sự sống. Từ những khám phá khoa học về bản chất của không thời gian và ánh sáng, con người có thể nắm được bản chất và sự liên hệ của vật chất lẫn năng lượng một cách chính xác. Vận tốc tuyệt đối của ánh sáng đã làm triệt tiêu ý niệm thời gian và không gian trong những phương trình toán học. Có nghĩa: nếu con người có khả năng di chuyển bằng tốc độ ánh sáng, thì cả vũ trụ sẽ cô đọng lại thành một điểm và thời gian sẽ cô đọng lại thành hiện tại. Quá khứ vị lai sẽ không còn.Vì trị số tuyệt đối của ánh sáng như thế, hai căn bản đo đạc chính yếu là chiều dài và thời gian chỉ còn mang giá trị tương đối. Đó là ý nghĩa của chữ tương đối trong thuyết của Einstein, qua câu dictum nổi tiếng, “moving clock runs slow” (Chữ ánh sáng tôi dùng trong bài này nói chung cho quang phổ điện từ-electromagnetic radiation)
Trải qua những khám phá khoa học vĩ đại từ thế kỷ 16, 17 cho đến thế kỷ 20, khoa học đã tìm ra những yếu tính căn bản về không gian và ánh sáng, nhưng ý niệm thời gian vẫn lẩn quẩn tồn tại trong tâm thức như một cái nhọt nhức nhối. Đó là: tại sao con người nói chung vẫn cảm thấy một cái gì đó huyền bí trước những thay đổi trong thời gian?
Một trong những khác biệt lớn giữa loài người và loài vật là khả năng ý thức hết sức mạnh mẽ về thời gian. Đây là tiến trình tự nhiên của tiến hóa và là sản phẩm của một hệ thống não bộ cực kỳ phức tạp do những thúc đẩy môi sinh và những thích ứng với hoàn cảnh tạo nên. Có thể nói rằng với bộ óc lớn của con người, cái cảm giác về thời gian trong mỗi chúng ta tự thành hình qua những phản ứng vi hóa học của tế bào óc sau hàng trăm triệu năm tiến hóa. Sự ý thức về cảm giác thời gian đang trôi qua này đem đến một điều hãi hùng cho con người: nó là loài duy nhất có khả năng biết rõ nó đang sống và một ngày nào đó chắc chắn nó sẽ chết. Với loài vật, thời gian chỉ là những gì đang xẩy ra, là hiện tại, là bây giờ, và quá khứ cũng như tương lai là một cái gì đó nhạt nhoà mơ hồ. Với con người, thời gian trải dài và bao gồm những gì đã xẩy ra và sẽ xẩy ra. Một con sóc, một đàn kiến cũng có khả năng tích cốc phòng cơ theo bản năng. Một con voi già cũng có thể có những linh tính mơ hồ về cái chết sắp đến. Nhưng chúng khác hẳn loài người ở chỗ chúng không có một khả năng tiên liệu và dự phóng rõ rệt như chúng ta. Tại sao? Như thế phải chăng thời gian chỉ là một sản phẩm tưởng tượng, một thứ “thùng rác” của những ảo giác được tạo thành và cất dấu trong não bộ, một tập trung kinh nghiệm của ngũ giác? Và chuyện thời gian trôi qua chỉ là một thứ ảo nghiệm? Và như thế, phải chăng Heraclitus đã không sai khi ông nhận xét, “Ngũ quan chúng ta là những nhân chứng đáng nghi ngờ”
Nói đến thời gian, ta cần phân biệt hai “loại” thời gian. Một là cảm nghiệm cá nhân về sự hiện hữu của mình trong thời gian, qua những đổi thay phù du của vạn vật. Thứ thời gian này mang tính chủ quan, phản ảnh yếu tố tâm lý. Loại thời gian thứ hai là thời gian khách quan. Thứ thời gian mà khoa học gia tìm hiểu, định nghĩa, đo đạc, và toán học hóa. Trong vật lý, thứ thời gian này được ký hiệu hoá là t.
Một cách vắn tắt, thời gian là “khoảng cách liên hệ” giữa 2 sự việc, cũng như không gian là khoảng cách ngắn dài giữa 2 sự vật. Như thế, thời gian hay không gian được xem là một mối tương quan tạo ra ý nghĩa cho cái ta gọi là hiện hữu chứ chúng không tự hữu. Thời gian sẽ vô hiện hữu nếu không có những đổi thay của sự vật hay những chu kỳ của sự việc. Thời gian, như thế là một tương quan của sự việc, mang lại thứ tự. Và nó làm cho sự việc trở thành sự việc!
Nói chuyện thời gian, tôi cảm thấy không thể không nhắc đến tâm thức, mà theo tôi là một “thành quả” có ý nghĩa nhất của thời gian. Có một mẩu chuyện như sau: một sinh viên khoa học hỏi ông thầy vũ trụ học sau khi ông thầy giảng là vũ trụ đã có mặt từ 15 tỉ năm nay. Anh ta hỏi, một cách triết lý, “Tại sao vũ trụ lại có thể cổ xưa lâu dài đến như vậy?” Thay vì trả lời một cách lý thuyết khô khan, giáo sư vật lý suy nghĩ và trả lời một cách gián tiếp, “Tại vì chúng ta hiện hữu” Câu trả lời của ông giáo sư không có tính cách khoa học, nhưng nó làm nẩy sinh bao nhiêu tư tưởng trong trí tuệ người hỏi. Theo tôi, ông giáo sư đã trả lời một cách khôn ngoan-vì ông ta biết chắc không thể nào có thể trả lời trực tiếp cho những câu hỏi “tại sao” siêu hình vĩ đại như thế. Ông giáo sư đã nghĩ đến câu nói, “man is the measure of all things” “con người là thước đo vạn vật” của Protagoras, và ông đã trả lời một cách khôn ngoan để gây những tác động cần thiết cho trí tuệ anh sinh viên. Con người là thước đo vạn vật vì khả năng suy tưởng trừu tượng của nó.
Những tương quan giữa tâm thức và thời gian, vì thế, đã làm nẩy sinh một số ý nghĩ trong tôi. Tôi xin tạm chuyển đề tài để nói qua về tâm thức trước khi quay trở lại với đề tài chính là thời gian. Phần sau đây, tôi xin phiếm luận một chút về tâm thức.
Trong thiền học, tôi nhớ có một giai thoại, đó là chuyện 2 chú tiểu cãi nhau về chuyện lá cờ lay động. Một chú nói gió lay động, một chú cho rằng lá cờ lay động. Một thiền giả bảo là chính tâm thức đang lay động (the mind is moving)
Tâm thức (hay còn gọi là thức giác-consciousness) được xem là một hiện tượng tương quan tổng thể-holistic and relational phenomenon-của những tiến trình hóa học trong não bộ. Những hiện tượng bên ngoài đưa đến những phản ứng vi hóa học của tế bào óc dẫn đến hiện tượng gọi là tâm thức, cũng như sự co dãn bắp thịt trên mặt tạo ra nụ cười hay cái nhíu mày, nhăn mặt. Không có sự “lay động” trong óc thì không có tâm thức. Sự lay động tiềm tàng trong ý nghĩa hai chữ tâm thức. Sự lay động của tế bào óc chính là cái ta gọi là tâm thức. Không có sự lay động ấy thì không có cái cảm giác “tôi hiện hữu” vì cái “tôi” ở đây chỉ là một tự cảm phát sinh từ bộ óc của một sinh vật (gọi là người), khi mà não bộ của sinh vật đó còn hoạt động bình thường. “Tôi” ở đây không hoàn toàn có ý nghĩa ngôi thứ như “anh” hay “tôi” hay “nó”. Tôi ở đây mang ý nghĩa bản ngã-self, là một khả năng tự cảm của bất cứ một bộ óc bình thường nào, dù là óc của một con rắn, con chim, con mèo hay của con người. Bản ngã thành hình khác nhau ở cường độ, tùy theo sự phức tạp của não bộ.
Thiền giả nói “tâm thức đang lay động” nhưng thực sự ý ông muốn nhấn mạnh, “sự lay động tạo nên tâm thức-synaptics firings in a normal brain create mind”
Triết gia và toán gia Rene Descartes nổi tiếng một thời với nhị nguyên luận-body and mind/dualism-qua câu nói “Tôi suy nghĩ vì thế tôi hiện hữu”, và tiếc cho Descartes, đây là một phát biểu sai lầm của một tư duy lớn mấy thế kỷ trước. Descartes thực ra không đáng trách vì thời ông Âu châu chưa có một nền khoa học tiến bộ, và sự sống cũng như ý nghĩa sự sống hoàn toàn nằm trong tay sự giải thích của thần quyền. Con người Âu châu trong thời Trung cổ không có quyền tự do suy tưởng, và cũng không mấy ai có khả năng tư duy một cách độc lập. Descartes đã bị lôi cuốn vào một ngộ nhận vĩ đại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một sản phẩm của trí khôn nhưng chính ngôn ngữ lại là dụng cụ “tạo ra” con người và nó cũng là vũ khí hủy diệt căn tính của con người (lưỡi không xương nhiều đường lắt léo)
Nhà văn Milan Kundera đã chế diễu Descartes bằng một câu trong cuốn truyện Immortality, tạm dịch như sau, “Nói rằng tôi suy nghĩ vì thế tôi hiện hữu là câu nói của một nhà thông thái chưa thấm thía với nỗi khổ mỗi khi đau răng”
Trong cuốn sách nổi tiếng Descartes’ Error, Antonio Damaso, bác sĩ thần kinh sinh não học người Mỹ, đã bẻ gẫy nhị nguyên luận của Descartes một cách khoa học qua những dẫn chứng và lý luận về những yếu tố quan trọng như tình cảm-emotion, cảm giác-feeling, những liên hệ mật thiết sinh lý của cơ thể đưa đến khả năng suy nghĩ duy lý-rational thinking, của bộ óc và sự quân bình của cuộc sống con người. Theo ông, cơ thể, hay đúng hơn, thần kinh hệ của con người, cũng như tâm thức không thể nào tách rời nhau. Quan niệm của ông điển hình cho phái emergent monism. Tôi tạm dịch: nhất nguyên luận tổng hợp.
( Xin lỗi quý độc giả nếu lối dịch của tôi hơi nặng mùi triết học.)
Damaso viết, “…I must immediately say that the self is a repeatedly constructed biological state”, tạm dịch, “...Tôi phải nói ngay rằng bản ngã là một sinh trạng được tạo nên do sự quen thuộc lập đi lập lại...” Ý ông cho rằng bản ngã chỉ là một hình thức tạo thành của những thói quen cơ thể (Gần đây ông viết thêm cuốn The Feeling of what happens, trình bày về những khám phá mới trong lãnh vực đi tìm và xác định tâm thức này. Người đọc cũng có thể đọc cuốn The User Illusion của tác giả Tor Norretranders để biết thêm những khám phá mới trong lãnh vực tâm thức.)
Khoa học gia Nicholas Humphrey đã diễu cợt Descartes bằng một câu tương tự “I feel, therefore I am”, “Tôi có cảm giác, vì thế tôi hiện hữu”
Nhà luận lý Keith Devlin, trong cuốn Goodbye, Descartes cũng đã hạ bệ chủ trương duy lý của Descartes bằng những lý luận phản Descartes.
Tôi cũng đã đọc thấy nhiều phát biểu có tính cách “phản Descartes” khác trong những sách khoa học, triết học hiện thời, với những câu tiêu biểu như, “tôi hiện hữu, vì thế tôi suy nghĩ” hay, “tôi cười, vì thế tôi hiện hữu”, “tôi đau khổ, vì thế tôi là”, vv.
Blaise Pascal, một tư duy lớn, cũng đã phát biểu về những “lý lẽ” của trái tim, đi ngược với lý luận của Descartes.
Tuy tâm thức đã được giải thích khá rõ, được phần đông khoa học gia xem như là một hiện tượng đặc biệt của sự sống-epiphenomenon- và tuy nó không còn được một số chuyên gia khoa thần kinh não học hay triết gia xem như một sự huyền bí, nhưng cũng nên nhắc đến nhận định của nhà tâm lý học nổi danh người Anh, Richard Gregory. Ông cho rằng tâm thức là một hiện tượng không thể nào giải thích một cách khoa học, và nguồn gốc của tâm thức có lẽ sẽ không thể nào xác định được.
Triết lý đông phương cho rằng bản chất của vũ trụ là tâm thức và tất cả sự vật lẫn sự việc chỉ là “hiện tượng” của tâm thức hiện thực qua con người. Tôi khá e dè với nhận định này và hiện chưa có thể đưa ra một nhận định nào khả tín. Danh từ qualia của thời cổ để chỉ một đặc tính sự vật, của tâm thức, như mầu xanh của cây cối, màu đỏ của sắc hoa, của những cảm xúc và tình cảm không thể đo đạc. Khoa học hiện tại không thể nắm bắt được ý nghĩa qualitative của sự việc mà chỉ có thể nhận định trên phương diện quantitative. Nhìn một bức tranh, ta thấy đẹp xấu, thích hay không thích, nhưng dĩ nhiên khoa học không làm sao tạo ra được một thứ máy đo để đo cường độ “đẹp xấu” như thế nào hay nụ cười của MonaLisa “bí mật” tới cỡ nào! Thành ra mind và matter vẫn còn là một vấn đề không có lời giải đối với 2 khoa thần kinh não bộ cũng như tâm lý. Theo tôi, một holistic approach để tìm hiểu trí tuệ có lẽ sẽ thành công hơn là reductionistic approach. Đây là phương cách của neuralnetwork theory-thuyết não mạng.
Tôi xin trình bày theo quan điểm của tôi một thí dụ về hiện tượng tổng hợp gọi là tâm thức và quan niệm sai lầm của nhị nguyên luận Descartes. Ta biết muối có vị mặn và muối là một chất hết sức cần thiết cho cơ thể. Ta sẽ chết nếu thiếu muối. Ta cũng biết muối là một hợp chất hóa học của 2 nguyên tố rất độc Na và Cl. Nhưng ta không thể nào phân tích để tìm ra “hiện tượng muối” trong Na hay trong Cl một cách riêng biệt, vì muối là emergent property- hiện tượng hóa học ngẫu hiện tổng hợp- của Na và Cl.
Cùng một suy luận như thế, body hay mind trong nhị nguyên luận của Descartes là hai yếu tố riêng rẽ, tách biệt. Vấn đề nan giải của Descartes: nếu tách rời mind và body, chúng không có nghĩa gì cả. Descartes cũng đã không hiểu gì đến sự liên hệ của thời gian trong ý niệm tâm thức.
Khoa học hiện đại dùng phép phân tích-analytic-và quy giản-reductionism-để xét bản chất và thành phần của một hiện tượng. Đây là triết lý quy giản của khoa học tây phương-philosophy of reductionism-đưa đến những thành quả lớn trong khoa vật lý cũng như những ngành khoa học liên hệ. Đông phương, trái lại, đặt nền tảng tri thức trên triết lý tổng hợp-philosophy of holism-và một phần cũng vì thế mà Đông phương đã không có được một nền khoa học chân chính như Tây phương. Theo tôi, hai bên đều có nhược điểm lẫn ưu điểm có thể bổ túc cho nhau. Nếu phân tích bộ óc Shakespeare để tìm khả năng và tài văn chương trong những tế bào óc của ông thì theo tôi là chuyện vô ích, như nhóm chuyên gia nào đó đã phân tích và mổ xẻ bộ óc của Einstein sau khi ông mất. Tâm thức và trí tuệ không thể được tìm ra qua phương pháp quy giản, vì tâm thức là một kết hợp và diễn tiến của tổng thể trong thời gian, và ý nghĩa của sự việc thường nằm ở trong những hiện tượng có tính cách ngẫu hiện-emergence. Nhưng không có phương pháp phân tích khoa học thì chúng ta chắc chắn sẽ không có nổi một nền kỹ thuật hiện đại, đem đến những tiện nghi tân tiến cải thiện cuộc sống con người.
Theo lý luận tôi trình bày trên, bộ óc là nền tảng nhưng không là tâm thức, cũng như 25 mẫu tự là cấu trúc nền tảng cần thiết cho một thứ quy ước gọi là ngôn ngữ dùng để truyền tin nhưng chúng không là dụng cụ tạo ra văn chương hay ý nghĩa của câu văn. Tạo ra văn chương là khả năng sáng tạo của trí tuệ cùng với những cảm nhận cao độ của những tâm thức độc giả trong thời gian. Những tâm thức với những kinh nghiệm có tính chất đồng cảm của những bộ óc. Một anh Phi Châu sẽ thấy tác phẩm Chiến Tranh và Hoà Bình và bài Dòng sông xanh là một đống giấy vô nghĩa và một chuỗi âm thanh hỗn độn.
Người, theo tôi, là một định nghĩa, một tiến trình và sản phẩm của hoàn cảnh, xã hội và sự phức tạp của môi sinh-ecology, chứ “người” ở đây không là một thực hữu. Cái thực hữu là một khối hữu cơ biết di động bằng hai chân, có ngũ giác, có khả năng tiêu hóa, bài tiết, giao cấu, hấp thụ dưỡng khí và thải thán khí, một tiến trình hóa học không hơn không kém. Nhưng cái thực hữu đó không làm nên cái ta gọi là người. Bộ óc nói chung chỉ là một tiềm năng, một tiềm năng vô dụng nếu không được tiếp cận với thế giới bên ngoài. Đi tìm tâm thức hay linh hồn trong cục hạch pineal như Descartes cũng giống như đi tìm chất “nước” hay sự “ẩm ướt” trong hydrogen hay oxygen. H và O tự chúng hoàn toàn không có chất nước tuy chúng là nền tảng tạo ra nước qua phản ứng hóa học.
Khi vũ trụ này mới thành hình, nó chỉ là một khối hỗn mang vô nghĩa, sự vật và chiều kích không-thời gian không nhất định. Thượng Đế không hề mơ tưởng đến cái gọi làsự sống khi búng tay sáng tạo ra vũ trụ. Con người là một tiến trình bất định, có thể xem đó là một may mắn, chứ người không hề là một dự án theo blueprint của Thượng Đế. Khoa học gia George Wald tuyên bố, “Con người là một sự cải tiến không ngừng của thiên nhiên và môi trường, không phải là một sản phẩm của một quyền năng”
Suy luận về tâm thức, tôi xin mời độc giả hãy nghĩ đến và hình dung ra những hiện tượng và cảm giác quen thuộc sau đây: một tiếng pháo nổ đoàng, một cánh chim vụt bay trên nền trời xanh, một mùi thơm hoa nhài thoang thoảng, một vị chát trong lưỡi, một cảm giác mềm mại khi bàn tay vuốt tấm nhung, một cơn đau thập tử nhất sinh lúc còn bé, khuôn mặt của một người thân quen, một tác phẩm văn chương đã đọc lúc còn trẻ, và một bài hát quen thuộc ngày xưa. Tất cả những sự việc đó xẩy ra trong thời gian. Chúng là những kinh nghiệm tạo nên ta, và phải nói chúng chính là ta, là tâm thức. Sẽ không có cảm giác hiện hữu nếu ta không có khả năng nhớ lại và duy trì những kinh nghiệm ấy vì “ta” chỉ là một tập hợp của những cảm giác và kinh nghiệm cá nhân, một thứ sinh hoạt của não bộ không hơn không kém. Hiện tượng phantom limbs là một bằng chứng mạnh. Những người bị mất tay chân vì tai nạn thỉnh thoảng vẫn còn thấy đau nhói nơi cánh tay hay chân đã bị giải phẫu cắt cụt! Đây là một sự “nhớ nhung” của bộ óc về một sự việc trong quá khứ. Cái cảm giác đau này không là một sự việc “đang xẩy ra”, mà nó chỉ là một “hoạt động, một nhớ nhung” của bộ óc về một kinh nghiệm mà bộ óc đã trải qua.
Những sự việc trong không gian như thế đã đưa đến một hiện tượng trong thời gian gọi là tâm thức. Cũng như sự co dãn bắp thịt của đôi môi đưa đến hiện tượng gọi là nụ cười. Nụ cười là một hiện tượng trong thời gian. Nụ cười đòi hỏi tâm thức và kinh nghiệm để có ý nghĩa. Một sinh vật khôn ngoan ở hành tinh khác chưa từng thấy nụ cười sẽ không hiểu nụ cười là gì. Một anh mọi Phi Châu có thể lờ mờ nhận ra nụ cười và hàm răng trắng của anh da trắng có lẽ là một cử chỉ thân thiện. Tại sao? Vì bộ óc của anh mọi cũng đã trải qua một quá trình tiến hóa chung như của một nhà thám hiểm da trắng mắt xanh. Tuy nhiên, không chừng anh mọi cũng có thể thấy nụ cười của nhà thám hiểm hay một nhà truyền giáo là một hình thức mời mọc, “Mời anh làm thịt và xực tôi!”
Tâm thức sẽ tan biến ngay lập tức một khi bộ óc chết hay bị hư hoại như trong trường hợp bệnh nhân lâm vào tình trạng hôn mê-deep coma-hay những lúc bệnh nhân bị chứng mất trí-total amnesia, hay vào thời kỳ cuối cùng của chứng bệnh hoại não bất trị Alzheimer, khi mà sự sống của bệnh nhân chỉ còn trong tình trạng thực vật, khi mà những motor functions đã chấm dứt vì não bộ đã không còn khả năng ra lệnh điều khiển những hoạt động cơ bản nhất của thân thể.
Khi một hài nhi lọt lòng mẹ, cái khối thịt đỏ hỏn ấy có sự sống và nó là một thực hữu, nhưng nó chưa là người. Não bộ của nó là một bộ máy điện tử chưa được nạp program. Cái ngã chưa hề có, vì tâm thức của hài nhi chỉ mới bắt đầu thành hình. Bản ngã là sự tích tụ do kinh nghiệm dần dà tạo nên. Tâm thức chỉ sẽ thành tựu nếu đứa trẻ đó được phát triển một cách bình thường với một não bộ bình thường trong những hoàn cảnh và môi trường tự nhiên. Một đứa trẻ không tập nói trước khi 12 tuổi sẽ mất đi vĩnh viễn khả năng nói. Một đứa bé nuôi trong lồng kính suốt đời sẽ không bao giờ trở thành người. Một người bình thường bị tước đoạt mất cảm giác của ngũ quan sẽ chết dần vì điên loạn-danh từ khoa học là sensory deprivation. Tarzan là một con thú mang hình người nhưng bản chất và linh hồn chó sói, một sản phẩm gượng ép của thiên nhiên và môi trường sống. Một đứa bé nuôi dưỡng ở Ý và tu tập trong Vatican có thể sẽ thành một Đức giáo hoàng hay một hồng y. Một đứa bé sinh ra ở Tây tạng sẽ có cơ hội trở thành một Đạt Lai lạt ma. Con vua thì lại làm vua, con ông sãi chùa lại quét lá đa. Chúng ta là sản phẩm của tục lệ, của những định chế do xã hội áp đặt.
Buổi sáng thức dậy, vào phòng tắm đánh răng rửa mặt, tôi tưởng tượng nếu nhìn vào gương mà chúng ta không còn khả năng nhận ra khuôn mặt trong gương là ai thì chúng ta sẽ hoang mang tới mức nào. Và sẽ không còn cái hiện tượng gọi là “chúng ta” nữa! Đây là nỗi đáng thương của những người bị chứng hoại não. Cái tôi và khả năng nhận thức cũng như hình dung ra chính mình không còn trong họ nữa. Nghe nói cựu tổng thống Reagan đã mất dần khả năng nhận ra người thân hay chính ông ta vì chứng bệnh Alzheimer.
Tâm thức hoạt động và hiện hữu trong khi ta ngủ, trừ những lúc ngủ cực say, và giấc mơ là một bằng chứng hùng hồn. Mắt nhắm nghiền, nằm yên, miệng ngáy, thế nhưng tâm thức vẫn lay động, vẫn sinh hoạt và hiện hữu qua ngả giấc mơ, và cái “tôi” vẫn có đó, bằng chứng là giấc mơ đang được kinh nghiệm bởi “tôi” Tại sao? Tại vì hàng tỉ neurons vẫn đang khai hỏa trong bộ óc. Một thiền giả có thể nằm mơ thấy lá cờ lay động tuy rằng mắt ông nhắm nghiền. Xin hỏi: cái gì đang thấy lá cờ di động trong một giấc mơ? Trả lời: tâm thức-là cái cảm giác “tôi” của thiền giả. Là hoạt động bình thường của một bộ óc trong một cơ thể tuy đang ngủ.
Thiền giả nói đúng nhưng điều ông nói không giải thích gì thêm cho hai chú tiểu đang cãi nhau. Điều ông thốt ra, “tâm thức đang lay động-the mind is moving” chỉ là một lối nói cốt ý nhấn mạnh vấn đề có tính cách gợi ý, cũng như nói “gió thổi” Gió có nghĩa là sự di chuyển của bầu không khí và chữ thổi đã nằm sẵn trong ý nghĩa của gió. Nói “gió không thổi” là mâu thuẫn, cũng như nói “tâm thức không lay động” là một mâu thuẫn.
Ngoài Descartes ra, một trong những khuôn mặt lớn gần đây cũng đang trên đà mất giálà Sigmund Freud. Ông làm mưa làm gió kể ra cũng được một thời gian, và đã sản sinh ra được một ngành học khá phức tạp: thần kinh tâm bệnh học. Nhưng cũng như Marx và Lenin, Freud đang tuột dốc nhanh chóng và thảm hại. Thần kinh và tâm lý học hiện đại cho thấy Freud sai lầm trên nhiều lãnh vực, từ những ẩn lý của giấc mơ, mặc cảm Oedipus, cho đến vô thức. Khoa thần kinh tâm lý đương thời đã phủ bác những thứ mặc cảm đó. Sang thế kỷ 21, tôi e rằng Freud sẽ chỉ còn là một tên tuổi mờ nhạt trong những ký ức mau quên của con người. Báo LosAngeles Times có đăng một bài khá dài về Freud gần đây với tựa đề, “Freud slips as an icon of science” Tôi xin dịch, “Freud đã không còn được xem như một biểu tượng của khoa học”
Khi ta nhắm mắt thở hơi cuối cùng trong giấc ngàn thu, tâm thức sẽ tan rã như bọt biển tan trong đại dương. Lúc đó, tất cả những neurons ngừng khai hỏa, cảm giác “tôi” và ý niệm thời gian vụt tan như mây khói, và những gì còn lại chỉ là một thân xác hữu cơ bất động đang từ từ mục nát trong không gian vật lý. Cái “tôi” và ý niệm “thời gian-không gian” chủ quan hoàn toàn tan biến, cũng như nụ cười biến mất trên khuôn mặt, chỉ còn để lại những bắp thịt vô hồn. Những câu hỏi “tôi là ai? tôi từ đâu đến? sau khi chết tôi đi về đâu?” vì thế, là những câu hỏi siêu hình hoàn toàn vô nghĩa vì nó đã bị chi phối bằng thứ ngôn ngữ sai lầm của một hệ thống thần học. Hỏi như thế cũng giống như một đứa trẻ ngây thơ nghịch cát biển thắc mắc không hiểu cái lỗ dưới đất nó mới đào bị mất đi đằng nào khi cái lỗ đã được sóng biển lấp đầy cát. Tuy nhiên, bao nhiêu hệ thống thần học và siêu hình học đã được tạo ra chỉ để trả lời mỗi một vấn nạn cỏn con đó: ý nghĩa của sự chết.
Triết gia vô thần Schopenhauer đã phát biểu một sự thật, “Sau khi chết, chúng ta sẽ trở về cái trạng thái trước khi chúng ta sinh ra” Theo ý tôi, câu nói đó của Schopenhauer muốn ám chỉ một trạng thái hư vô, trống rỗng hoàn toàn, một thứ hư vô của triết học. Nó còn là cái tan rã của tâm thức và sự hủy diệt của bản ngã.
Một điều mà tất cả độc giả và Schopenhauer có lẽ sẽ cùng đồng ý đó là sẽ không bao giờ có một thứ kinh nghiệm chủ quan “tôi chưa được sinh ra” hay “tôi đã chết”, vì tôi chỉ là một tiến trình có giai đoạn chứ không tôi không phải là một thực hữu như nhị nguyên luận quan niệm. Một linh hồn tồn tại ngoài cơ thể là chuyện không hề có. “Cái tôi” chỉ là một cảm tưởng chủ quan xẩy ra ngay bây giờ.
Schopenhauer đã có những suy nghĩ tương tự như công án thiền sau đây, “Bản lai diện mục của bạn trước khi bạn sinh ra như thế nào?” Công án này không nhằm đòi hỏi một câu trả lời, dù là một trả lời có vẻ hợp lý. Tìm cách trả lời một công án là không hiểu ý nghĩa của công án. Công án là một phương tiện suy niệm đặc biệt có khả năng lay động, đánh thức và quan trọng nhất: công án là một thứ búa tạ đập vỡ và làm triệt tiêu cái ảo giác “tôi” của người suy nghiệm.
Bạn và tôi lúc nào cũng đang cưu mang trong mình cái “tôi” riêng biệt của mỗi người, nhưng cái tôi đáng ghét hay dễ thương ấy không hề thực hữu. Cái tôi ấy chỉ là một diễn tiến trong thời gian và là tác phẩm giả tưởng của bất cứ một bộ óc nào đó, ngoại trừ những bộ óc điên khùng. Có những bệnh nhân thần kinh tưởng họ là Jesus, Mohamed, Buddha, Napoleon, chỉ vì bộ óc họ đã hỏng. Và cũng có nhiều bệnh nhân thần kinh, những bộ óc bất bình thường của họ tạo ra rất nhiều cái tôi trong mỗi bộ óc-multiple personalities. Như vậy, một “tôi” hay “nhiều tôi” chỉ là những sản phẩm tùy thuộc vào một bộ óc bình thường hay bất thường.
Cái “tôi” nghiệt ngã ấy được triết lý Phật giáo xem là một thứ tiền nghiệp, và người Phật tử được hướng dẫn để có thể sống một cuộc sống vị tha, chừng mực, và hướng tâm hồn đến thiên nhiên cùng tha nhân càng nhiều càng tốt. Có nghĩa là một cuộc sống tránh được cái tôi phù phiếm hư ảo và những tham vọng cá nhân làm khổ chính mình. 20 thế kỷ trước, Chúa Jesus cũng đã có những phát biểu có tinh thần vị tha và hy sinh như, “Love the Lord thy God with all thy heart, with all thy soul and with all thy might and love thy neighbor as thyself” hay, “Be as little children” –“hãy như con trẻ” Chỉ khi nào chúng ta hồn nhiên vô tâm như con trẻ thì chúng ta mới thoát ra khỏi cái bản ngã vị kỷ ràng buộc và phân cách chúng ta với thế giới bên ngoài và người đồng loại chung quanh. Nếu hiểu “ý” Chúa thay vì “lời” Chúa, ghép song song với những khám phá khoa học của thế kỷ 20, thì những phát biểu đó rất cấp tiến và cách mạng của một nhà cách mạng tâm linh, Jesus.
Thời gian là yếu tố tạo nên cảm giác hiện hữu. Nói cách khác, cảm giác hiện hữu là một kinh nghiệm trong thời gian. Tâm thức là thành quả trong thời gian.
Quan niệm linh hồn bất tử của tôn giáo tây phương, qua những khám phá khoa học về sinh lýthần kinh học-neurophysiology-trở thành một quan niệm không còn đứng vững. Bergson với quan niệm elan vitan nổi tiếng ngày nào, nay cũng đã bị bỏ quên.
Trở lại câu chuyện thiền về lá cờ. Lá cờ lay động là một hiện tượng vật lý tạo nên tâm thức qua ngả thị giác, tạo nên những rung động trong hệ thống thần kinh não bộ của chú tiểu. Lá cờ phe phẩy là một diễn tiến xẩy ra trong không gian, nhưng kinh nghiệm lá cờ lay động là một cảm nghiệm sinh lý xẩy ra trong một thế giới cá nhân, trong một bộ óc. Một thân cây đổ tạo nên âm thanh trong một khu rừng vắng, nhưng nếu có người nghe tiếng cây đổ thì một cảm nghiệm sinh lý thính giác đã “tạo nên một tâm thức” trong một bộ óc. Như thế, cái “ngã” chỉ là một khả năng tiếp nhận dữ kiện và một thói quen thường lệ của bất cứ bộ óc nào, khi mà bộ óc ấy còn đang sống.
Triết gia Long Thọ thuộc phái Trung Đạo đã viết một tác phẩm hay vào thế kỷ thứ 2, Thập Nhị Môn Luận, về bản chất của hiện hữu. Độc giả có thể đọc để hiểu thêm về phép biện chứng của Long Thọ trong việc diễn giải bản chất của vũ trụ. Một tiến sĩ vật lý người Anh, David Darling, đã so sánh hai hệ thống: triết lý Tây phương với triết lý Đông phương. Ông cho rằng triết lý Tây phương cũng tương tự như hệ thống hình học phẳng Euclid và triết lý Đông phương cũng như hệ thống hình học cong Riemann. Sự so sánh của ông ám chỉ triết lý tổng hợp Đông phương nắm được ý nghĩa của vũ trụ một cách thâm sâu như Einstein đã khám phá ra qua thuyết tương đối đặt căn bản trên hình học cong, so sánh với cái nhìn cố định, “phẳng”, tùy thuộc nhiều định đề của hình học phẳng trong triết lý Tây phương. Đầu óc duy lý của Tây phương muốn cụ thể hóa, duy vật hóa, và cố nắm bắt tất cả những gì nó quan niệm qua hai vai trò riêng rẽ chủ thể và khách thể.
Triết lý Đông phương, điển hình là Lão Tử, trái lại, xem con người và thiên nhiên là một, là tương quan sâu đậm giữa vạn vật, phản ảnh qua câu nói nổi tiếng của Lão Tử, “những dây thừng thắt chặt nhất là những giây thừng vô hình”
Vai trò Thượng Đế của Tây phương, suy nghĩ kỹ, là một lý luận tối quy giản, vì Thượng Đế được tôn giáo độc thần tây phương xem là giải thích cuối cùng cho tất cả những gì cần phải giải thích, là lý do cuối cùng của tất cả những lý do, là câu trả lời tối hậu cho tất cả những câu hỏi, và là một “quyền năng sáng tạo” ra hiện hữu, sự vật, vũ trụ, nói theo ngôn ngữ Mỹ là “The buck stops here”. Cũng như khoa vật lý đang nỗ lực đi tìm “thuyết cuối cùng” bằng một hệ thống toán cao cấp.
Theo tôi, đây là một khó khăn trầm trọng cho cả thần học lẫn khoa học vì nếu dùng ý niệm Thượng Đế để giải thích hiện hữu thì bắt buộc Thượng Đế phải được đặt ra ngoài những gì ta hiểu là hiện hữu, là những gì bị trói buộc trong không thời gian, và như thế, phát biểu “Thượng Đế tạo ra hiện hữu từ hư vô”-creation exnihilo- tự nó là một thứ trùng phức và phản luận lý. Đó là cái khó khăn mà Augustine đã gặp phải khi ông suy nghĩ về thời gian và tự hỏi, “Thượng Đế làm gì khi Ngài chưa tạo ra thời gian và không gian?” và như thế, những quan niệm tôn giáo như “Thượng Đế có và hiện hữu” là những nhận định có tính cách tự mâu thuẫn về ngôn ngữ.
Đó là một trong những khó khăn nan giải của thần học tây phương, dù là deism hay theism. Từ những khó khăn đó, thần học tìm cách giải quyết vấn đề Thượng Đế qua những quan niệm có tính cách co dãn như pantheism và panentheism hay process theology của triết gia Hartshone. Mục đích: để tránh những mâu thuẫn đã quá lộ liễu đối với trí tuệ con người. Theo tôi, không đi đến đâu và bí mật vẫn hoàn bí mật.
Khoa học vật lý cũng vướng phải một vấn đề nan giải và phải bó tay với ý nghĩa của thời gian. Nếu có một hệ thống phương trình toán nào đó được những trí tuệ phi thường của khoa học khám phá ra và được xem là “thuyết tối hậu” thì hệ thống phương trình ấy cũng không thể nào biến không thành có. Có nghĩa là phương trình ấy hoàn toàn vô dụng trong việc “hiện thực hóa” vũ trụ từ ý niệm toán học của chính nó, mặc dầu nó có thể được xem là có khả năng thống nhất sự hiểu biết về vật lý và có khả năng định đoạt những điều kiện tiên khởi cho vũ trụ hiện thực này. Đó cũng là lý do mà John Horgan đã viết cuốn sách đầy châm biếm The End Of Science, “Cái chết của nền khoa học” Cuốn sách đã gây bực mình không ít cho giới trí thức Mỹ.
Theo tôi, khoa học thành công lớn trong việc đi tìm những tương quan của hiện tượng và tìm cách giải thích những liên hệ chập chùng, nhưng khi đi tìm lý do và nguyên nhân của hiện hữu, thì khoa học đã bước vào địa hạt triết lý và siêu hình, và tôi e rằng khoa học không đủ tư cách và khả năng, vì nó chỉ còn là những ức đoán dựa trên những suy nghiệm thiếu căn cứ và thí nghiệm, dù rằng khoa học gia được trang bị với những vũ khí hạng nặng như thuyết CPT, GUT, hay những ý nghĩa đẹp đẽ hài hòa, hay nguyên lý nhân chủng hay một siêu thuyết gì gì đó.
Bertrand Russell quan niệm vũ trụ tự hữu không cần lý do. Vũ trụ chỉ được xem là một hệ thống tương quan phức tạp cũng như con người là một tương quan phức tạp. Những tương quan phức tạp giữa sự việc là hiện hữu. Tương quan làm nên vật chất. Vật lý hiện đại xem vật chất là một hình thức cô đọng của năng lượng, và năng lượng được xem là một tương quan của những co dãn và méo mó của không thời gian 4 chiều. Những tính chất dương của vật chất được quân bình hóa với tính chất âm của trường hấp lực, và như thế, trên phương diện kế toán, vũ trụ là một con số không to lớn trong đó âm và dương triệt tiêu lẫn nhau, và không cần một bàn tay của một ông thần nào đó tạo nên. Vì tổng thể vũ trụ có thể là zero. Phương trình của Einstein về matter-energy là một cái chìa khoá khám phá bí mật và cũng đồng thời là một điều kiện hết sức nghiêm nhặt không thể nào có thể du di được.
Bản thể-Ontology, theo suy nghĩ của tôi, chỉ là một từ ngữ ngộ nhận của triết học.
Trong thế giới của những thuyết vật lý cao cấp, yếu tính là cái tạo ra hiện hữu và bản thể. Từ yếu tính dẫn đến bản thể. Một hạt electron không có bản thể trong không thời gian, mà chỉ có những yếu tính-properties- có thể đo lường, từ đó dẫn đến một “bản thể” ta gọi là electron. Những yếu tính ấy là điện tích, vòng quay và khối lượng (charge, spin, mass) Cao hơn thế nữa là những quan niệm về fields-trường, và quan niệm về tính chất đối xứng-symmetries. Những quan niệm này “thật” nhưng “không thật”, và đã trở nên quá khó khăn để có thể hình dung hay nắm bắt bằng thứ ngôn ngữ thường ngày. Phải là những chuyên gia vật lý am tường những ngành toán như “group theories” mới hiểu được ý nghĩa của symmetries.
Nếu tôi nhớ không lầm thì có một triết gia nào đó đã cho rằng hư vô chính là ý nghĩa cao quý nhất của Thượng Đế. Một trạng thái phi hữu. Nếu thế thì tôi suy luận và cho rằng có lẽ khoa học và triết học đã vô tình gặp nhau ở điểm đó. Hư vô, trên phương diện vật lý, có thể được xem là trạng thái toàn hảo nhất, vì hư vô chứa đựng nhiều cân xứng nhất (Nothingness possesses the most symmetries)
Chúng ta là những sinh vật bất toàn, hữu hạn, mất đối xứng, bất quân bình giữa âm và dương, là những mảnh vỡ vụn còn sót lại của một “cái gì đó” nguyên thủy vô hình và bất hữu.
Ngoài vũ trụ, nếu có, là những gì bất biến của toán học và luận lý, một thế giới Platonic và transcendental. Vì thế, Thượng Đế, toán học, luận lý, tuy khác tên nhưng có cùng một bản chất và ý nghĩa, ở trong một “thế giới phi vật chất” không tùy thuộc và không bị chi phối bởi những phạm trù “có” hay “không có”
Tôi hy vọng độc giả sẽ không phàn nàn tôi vì những thứ ngôn ngữ bóng tôi dùng trong bài.
Một điều tôi thích ở triết lý Đông phương là sự xóa bỏ ranh giới nhị nguyên giữa “không” và “có”, giữa “quan sát viên” và “sự việc được quan sát”-observer and the thing observed. Nó có tính cách thực tiễn, loại trừ những vấn đề mang tính chất siêu hình, và xem vũ trụ là một hệ thống tương quan thay vì một thiên lệnh của một đấng vô hình nào đó. Vì thế, trong triết lý Phật giáo không có ý niệm thần thánh hay linh hồn là lý do đó. Triết lý Đông phương là một triết lý của những tương quan sự việc gọi chung là duyên và nghiệp, của những hệ lụy nhân quả. Triết lý của Phật giáo nhắm phá tan cái bản ngã vô thường và cái tham sân si của con người ngay trong khi còn sống, trái lại, triết lý thần học Tây phương là một triết lý duy trì cái bản ngã mơ hồ và ý niệm linh hồn không thực hữu của con người ngay cả sau khi thân xác hữu cơ đã chết.
Heisenberg, vật lý gia tiền phong và là triết gia ảnh hưởng Phật giáo, có những suy nghĩ giống như sư Long Thọ về bản chất của hiện hữu. Trong cuốn sách nổi tiếng, Vật Lý và Triết học, Heisenberg đã viết,
“The world thus appears as a complicated tissue of events, in which connections of different kinds alternate or overlap or combine and thereby determine the texture of the whole.”
Tôi xin tạm dịch, “Vũ trụ hiện hữu như một tập hợp phức tạp của những biến cố xẩy ra, những tương quan và liên hệ khác nhau của sự việc đã tác động lẫn nhau, xen kẽ cũng như cộng hưởng, và từ đó đưa đến tính chất thực tại cho tổng thể”
Nếu thần học và siêu hình học đặt câu hỏi “vũ trụ từ đâu đến?” thì khoa học cũng có những câu hỏi, “những điều tiện tiên khởi nào đưa đến vũ trụ hiện hành?” trong khi đó, một thiền giả khi đối diện với những câu hỏi đó, tôi chắc ông sẽ đưa ra những câu “trả lời” vô thưởng vô phạt như, “cây tùng trước sân”, “đống phân”, “đám mây trắng trên trời” hay một câu nói nào đó hoàn toàn không có tính cách trả lời. Làm sao thiền giả có thể trả lời một câu hỏi mà tự bản chất câu hỏi đó đã là một vô nghĩa? Nếu triết học và khoa học tây phương bế tắc, tôi nghĩ vì chính nó đã tự dồn nó vào chân tường. Thần học đi tìm giải thích ở một Thượng Đế tuyệt đối, khoa vật lý đi tìm thuyết sau cùng gọi là Theory of Everything để giải thích tất cả những gì hiện hữu, nền triết học khổ sở đi tìm “thực tại đích thực tối hậu” của hiện hữu qua lý luận và ngôn ngữ, và theo tôi, bế tắc vẫn hoàn bế tắc. Triết học còn sa lầy một cách đáng thương hơn ở chỗ là nó đã được đặt nền tảng trên những lý luận dựa theo kiến thức cổ điển, mà ngôn ngữ tự nó đã là một thứ khí cụ quá cũ mòn và thiếu chính xác. Hãy nghe đại vật lý gia Niels Bohr khinh bỉ cả một nền triết học tây phương qua phát biểu thẳng thừng của ông, “tất cả những gì triết gia từng thốt ra chỉ là trò nhảm” -chữ “trò nhảm” tôi dịch từ chữ “pure drivel”
Khi mà nhân loại đã theo khoa học tiến vào thế kỷ 21, điều đáng tiếc là triết học tự bản chất vẫn còn dậm chân tại chỗ và còn đang ngụp lặn trong vũng bùn lầy ngôn ngữ của thế kỷ 15, 16, 17, 18. Có thể ví von-một cách hỗn xược- triết gia như là những chú chuột nhắt chạy không ngừng trong một chiếc lồng vòng tròn làm bằng ngôn ngữ.
Để tạm chấm dứt câu chuyện về tâm thức, tôi xin kể với độc giả một kinh nghiệm nhỏ đã xẩy ra cho chính tôi. Không ai trong chúng ta có “kinh nghiệm” chết nó như thế nào vì chúng ta... chưa chết, vì sự chết không thể được xem là một kinh nghiệm mà sự chết chính là sự tan biến của cảm giác và kinh nghiệm cá nhân cũng như tất cả những ký ức tồn đọng trong bộ óc mỗi người. Độc giả ai cũng đã từng có những lúc ngồi xổm lâu dưới đất, khi chống tay đứng dậy thường cảm thấy hoa mắt và chóng mặt, đầu óc xây xẩm, nhất là với những người bị thiếu máu. Tôi nghĩ lúc sắp chết cũng như thế, khi mà bộ óc không còn đủ oxygen do hai lá phổi cung cấp vì sức lực không còn đủ để mà thở.
Có một lần tôi mải mê ngồi nhổ cỏ dại ở sân nhà lúc buổi sáng khi bụng đói cào, đến lúc vươn vai đứng bật dậy, tôi choáng váng hoa mắt ngã lăn ra trên đám cỏ, đầu óc hôn mê, bầu trời quay vòng vòng! Ngất đi khoảng 2, 3 phút tôi mới tỉnh lại. Trong lúc ngất đi như thế, cái tôi không hiểu đi vắng chỗ nào! Tôi chợt nhận ra một cách rõ ràng là cái tôi và tâm thức chỉ là một cảm giác của bộ óc lúc bộ óc còn đủ oxygen để mà hoạt động, chứ không là gì khác hơn. Cái tôi chỉ là một thứ ảo tưởng vĩ đại!
Sau kinh nghiệm đó, tôi tự kết luận: Chết, đối với một cá nhân, là hết!
Rất tiếc cho Descartes, khoa học đã cho thấy ông đã sai. Linh hồn theo quan niệm nhị nguyên của ông, với những danh từ như res extensa và res cogitans ông đã đặt ra, cũng như linh hồn theo quan niệm siêu hình của thần học tây phương nói chung, chỉ là những ý niệm không thực. Linh hồn nên được hiểu là tấm lòng vị tha, một trái tim mở rộng, và khả năng sống tích cực của mỗi người hơn là một thứ vô hình tướng tạo ra sự sống trong một thân xác như Descartes quan niệm.
Tôi đã khá dài dòng về tâm thức và cái chết. Xin lỗi độc giả. Đến đây, tôi xin trở lại với ông bạn thời gian.
Khoa học gia đã nghĩ đến thời gian một cách khách quan từ nhiều thế kỷ nay. Đong, đo, đếm, tính toán là công việc chính của khoa học. Chu kỳ là một danh từ quen thuộc gắn liền với ý niệm thời gian. Học trò ai cũng biết những chuyển động chu kỳ như con lắc, lò xo co dãn đàn hồi, đã học qua trong lớp vật lý thời trung học. Học, nhưng hình như không mấy ai suy ngẫm về nó.
Biến dịch, vô thường, thay đổi, chuyển hóa, tiến trình, diễn tiến: những từ quen thuộc để chỉ sự thay đổi của sự vật và sự việc trong thời gian. Mặt trăng quay chung quanh trái đất một tháng một vòng, trái đất quay chung quanh mặt trời mỗi 365 ngày, Thái Dương Hệ quay chung quanh một cánh của giải ngân hà 200 triệu năm mỗi vòng, giải ngân hà quay theo hình xoắn ốc trong một hệ thống thiên hà phức tạp chưa thể ước tính nổi chu kỳ. Những sự việc này có tính cách tuần hoàn, tái diễn, và thời gian là một thứ khoảng cách có thể đo được, chu kỳ hóa được. Nó còn được hiểu là một chiều đặc biệt của vũ trụ.
Khoa học là một hệ thống định lượng. Khi nhìn vào không gian vô biên vô tận, khoa học gia tự hỏi: vũ trụ này có chu kỳ của nó không? Nếu có thì bao nhiêu lâu? Thế nào để được xem là một chu kỳ? Khi quan sát một phản ứng hạch tâm hay một phản ứng lượng tử như trong vật lý vi hạt, khoa học gia lại cũng tự hỏi: chu kỳ của phản ứng này bao lâu? Khoa học gia không ngừng tìm tòi xem chu kỳ nào ngắn nhất của một sự việc cho đến chu kỳ nào được xem là dài nhất.
Trong thế giới vi mô cực tiểu của nguyên tử, có một định lượng thời gian cực nhỏ không thể phân chia được theo những hiểu biết hiện hành, gọi là Planck time. Planck time là một lượng thời gian cơ bản làm chuẩn và nó là một trong 3 chuẩn lượng cho vật lýnguyên lượng: Planck time, Planck mass, Planck dimension. Chúng có trị số cực nhỏ. Có thể nói chúng là “giới hạn sau cùng”
Trong thế giới thường ngày, chúng ta dùng hai hệ thống đo lường “mks” và “cgs”, trong đó mẫu tự s viết tắt của chữ second, tức giây đồng hồ. Một giây đồng hồ cách đây không lâu được xác định bằng những rung động-resonances- của nguyên tử cesium. Cứ mỗi 9,192,631,770 chu kỳ rung động của nguyên tử cesium thì giai đoạn đó được quy định là một giây. Trong tương lai, có thể sẽ có những tiêu chuẩn định giờ giấc chính xác hơn, như chu kỳ vòng quay của những thiên thể gọi là pulsars.
Giữa cái cực đại và cực tiểu của sự việc, con người có lẽ quen thuộc hơn với những chu kỳ “ngắn hạn” như 100 năm kiếp người (trăm năm trong cõi người ta), 280 ngày (giai đoạn thai nhi), 11 ngày (mặt trời quay tròn được một vòng), 8 phút đồng hồ (ánh sáng từ mặt trời bay đến quả đất), 3 phút (một hiệp quyền anh), .2 giây đồng hồ (nháy mắt), vân vân.
Lúc còn bé tôi được cắt nghĩa câu nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, tôi không hiểu rằng đây chỉ là một cảm tưởng tâm lý. Tại sao một ngày ở tù dài bằng một ngàn năm ở ngoài? Tôi không thể nào hình dung ra được chuyện ấy. Sau này, khi đọc đến thuyết tương đối, mới thấy chuyện ấy có thể xẩy ra, với điều kiện cái nhà tù ấy phải bay rất nhanh! Tôi xin đổi lại: nhất nhật tại phi thuyền, thiên thu tại địa cầu.
Stephen Hawking là một khuôn mặt lớn của vật lý lý thuyết hiện đại. Bị giam hãm gần nửa đời người trên một chiếc ghế lăn vì chứng bệnh bại liệt bất trị Lou Gherig, ông là một phế nhân trên phương diện thể chất. Tuy tàn phế nhưng điều may là trí tuệ ông vẫn còn minh mẫn. Ông đã tư duy nhiều đến ý nghĩa thời gian. Ông cùng một đồng nghiệp đã đưa ra một số quan niệm về nguồn gốc của thời gian, như thời gian ảo-imaginary time- và no boundary condition-trạng thái vô biên cương của không-thời gian. Ông đã đưa ra một giải thích một cách cụ thể dễ hiểu bằng một ví dụ để độc giả có một ý niệm thời gian có thể đã bắt đầu như thế nào. Ông dẫn giải như sau: chúng ta là những sinh vật sống trên một quả cầu lửng lơ trong không gian. Chúng ta đặt ra quan niệm phương hướng như “đông, tây, nam, bắc, trước, sau, trái, phải, trên, dưới, ngang, dọc, trong, ngoài” để giúp chúng ta trong việc xác định vị trí. Hãy tưởng tượng bạn đang đứng ở một điểm nào đó phiá bắc đường xích đạo. Ở vị trí của bạn có 4 phương tám hướng rõ rệt. Lấy ví dụ nếu cứ đi mãi về hướng bắc, thì cho đến một lúc nào đó ta sẽ đặt chân đến một điểm gọi là điểm cực bắc tại bắc bán cầu. Có một sự lạ: ở điểm cực bắc thì cái gọi là hướng bắc bị triệt tiêu. Cực bắc được hiểu là một địa điểm mà ở nơi đó bất cứ di chuyển một bước chân nào thêm nữa cũng làm ta đi về hướng nam. Như thế cực bắc chỉ là một định nghĩa không hơn không kém, không hề là sự thật. Đứng ở điểm cực bắc, câu hỏi “đâu là đông, đâu là tây, đâu là bắc đâu là nam” sẽ trở nên thừa vì ở tại cực bắc bất cứ hướng nào khác cũng là hướng nam. Sẽ không có hướng bắc hay đông hay tây của điểm cực bắc, cũng như sẽ không có hướng nam của điểm cực nam.
Hawking đã áp dụng thí dụ này vào quan niệm thời gian để giải thích sự bắt đầu của nó. Ông nói rằng một khi ở tại một thời điểm nào đó của vũ trụ, thì những câu hỏi như “Trước khi vũ trụ xẩy ra” hay “Vũ trụ từ đâu đến” hay “Thời gian bắt đầu từ lúc nào?” là những câu hỏi vô nghĩa, cũng như đứng ở cực bắc và hỏi đâu là hướng bắc. Sẽ không có hướng bắc vì bắc chỉ là một quan niệm.
Những tiến trình của cái khối hỗn độn gọi chung là vũ trụ mang đến quan niệm thời gian, cũng như những tiến trình của não bộ mang đến cái cảm giác hiện hữu.
Entropy là một quan niệm gắn liền với nhiệt động học, một ngành quan trọng của vật lý. Nó là một môn học có một tính chất đặc biệt: Nó là môn duy nhất chứa đựng mũi tên thời gian trong những tiến trình vật lý. Những quan niệm như entropy và time-asymmetric dịch ra tiếng Việt tương đối khó khăn, nhưng muốn hiểu ý niệm thời gian, những quan niệm này cần phải được nắm vững. Entropy có thể hiểu như một định lượng chỉ sự hư hoại, trái nghịch với sự hữu ích. Trong một nguồn năng lượng, entropy càng ít càng tốt. Kỹ sư Sadi Carnot của Pháp đã thí nghiệm nhiều với máy xử dụng nhiệt (heat engine) Cùng thời với ông là một khoa học gia người Đức, Rudolf Clausius, và Rudolf được xem là cha đẻ của quan niệm entropy.
Quan niệm entropy có thể được giải thích qua một vài thí dụ sau đây:
_Một ly nước đá lạnh và một ly nước sôi. Sau khi để chúng ra ngoài không khí, chúng sẽ tăng và giảm nhiệt độ cho đến khi chúng trở thành nước nguội. Entropy của ly nước nguội sẽ lớn hơn ly nước sôi, vì ly nước sôi có thể dùng vào việc luộc trứng trong khi đó nước nguội mất đi khả năng đó. Như vậy, entropy là một sự phản dụng ích của một hệ thống.
_Ánh sáng mặt trời làm cho cây cối phát triển và đơm bông kết trái do phản ứng của diệp lục tố. Ta ăn trái bắp và ta có trong người một số năng lượng. Ban đêm, ta cưỡi xe đạp, bắp thịt ta hoạt động trong khi đạp bánh xe, bánh xe cà sát vào bình dynamo và tạo thành dòng điện. Dòng điện này làm cho đèn gắn ở mũi xe sáng, rọi đường cho ta đi. Ánh sáng mặt trời đã trở thành ánh sáng rọi đường ban đêm sau khi trải qua một chuỗi phản ứng hóa học khá phức tạp. Có một điểm rất khác biệt: Ánh sáng mặt trời thuộc loại entropy nhỏ, trong khi đó, ánh sáng đèn điện có entropy lớn. Anh sáng mặt trời như thế có giá trị dụng ích cao hơn ánh đèn điện.
_Một nguồn năng lượng nào đó, nếu entropy càng nhỏ càng có giá trị. . Một bình xăng có một entropy nhỏ, bình xăng ấy được xử dụng và sau khi biến thành nhiệt, entropy trở nên cực đại. Nhiệt năng là hình thức cuối cùng và hỗn loạn nhất của năng lượng.
_Một cỗ bài 52 lá mới bóc ra sẽ có một entropy nhỏ hơn một cỗ bài đã đựơc xào đi xào lại sau những canh bạc. Như thế, entropy còn đựơc hiểu như một sự mất trật tự trong một hệ thống. Càng trật tự càng giá trị, càng lộn xộn hỗn độn, tức là càng nhiều entropy và như thế càng ít giá trị.
_Entropy còn được xem là phản nghĩa với information-tạm dịch là tin tức. Tuy nhiên, chữ information mang một ý nghĩa khá đặc sắc trong vật lý, khác với những xử dụng thường ngày.
Vũ trụ lúc khởi đầu có một entropy nhỏ hơn bây giờ. Và mũi tên thời gian tiềm tàng trong những điều kiện đầu tiên của vũ trụ-initial conditions. Nó cho thấy càng ngày, tổng số entropy của vũ trụ càng tăng, cho đến ngày nào đó, entropy của vũ trụ sẽ tăng đến mức cực độ, và vũ trụ sẽ không còn tiến triển hay hoạt động nổi nữa. Quan niệm này đưa đến quan niệm “heat death” “chết vì lạnh”, một trạng thái khi mà tất cả những tiến trình hóa học, hạch tâm, lượng tử sẽ phải chấm dứt. Điều này là một hậu quả của luật thứ 2 nhiệt động học (Cơ học lượng tử tiên đoán trong tương lai xa vời của vũ trụ vật chất, tất cả những gì còn lại trong vũ trụ này chỉ là bức xạ-radiation- với những lỗ đen cực nhỏ-micro black holes- rải rác đây đó trong cái vô biên vô hạn của không thời gian)
Vũ trụ sẽ thực sự “chết” và thời gian sẽthành vô nghĩa khi tất cả những tiến trình lượng tử chấm dứt. Một khoảng thời gian cực kỳ xa vời được ước tính vào khoảng con số 10 lũy thừa 10 lũy thừa 80 năm. Đến lúc đó, entropy đã gia tăng đến mức cực độ và nhiệt độ còn lại của nền bức xạ sẽ là “1 chia cho 10 lũy thừa một triệu” độ Kelvin.
(Muốn “đi ngược” mũi tên thời gian để tái tạo lại vũ trụ, hay muốn làm cho tổng thể entropy trong vũ trụ giảm xuống, con người phải có khả năng thay đổi cấu trúc kỷ hà căn bản của vũ trụ-manipulating the spacetime geometry. Điều này chắc chắn sẽ không xẩy ra trên thực tế, chỉ xẩy ra trong những chuyện khoa học giả tưởng và trong phim trường Hollywood)
Như thế, bằng những quan sát khoa học, mũi tên thời gian-the arrow of time-đã được tìm ra qua nhiệt động học. Vũ trụ có chiều hướng thời gian của nó. Chiều hướng đó là sự biến đổi từ trạng thái entropy nhỏ cho đến trạng thái entropy lớn. Từ tạo thành cho đến hủy hoại và tan rã.
Khủng hoảng lớn nhất và sai lầm lớn nhất của khoa học Newton có liên quan đến ý niệm thời gian. Đó là 2 quan niệm simultaneity và instantaneity, tôi xin tạm dịch là quan niệm về tính chất “đồng thời” và tính chất “ngay lập tức”
Thứ nhất, vì vận tốc cực nhanh của ánh sáng, ta tưởng mọi sự việc chung quanh ta đang xẩy ra cùng một lúc, và đó là một sai lầm của trực giác. Những gì xẩy ra “ngay bây giơ” chỉ có ý nghĩa đối với từng cá nhân một vì tôi không thể nào dùng chữ “đồng thời” cho những gì cách tôi quá xa. Không như Newton suy nghĩ, những gì cách xa tôi trong không gian cũng là những gì cách xa tôi trong thời gian. Cái cảm giác đồng thời chỉ có thể xẩy ra cho những gì gần sát bên tôi. Nếu giả sử mặt trời tự nhiên “biến mất ngay bây giờ” thì khoảng tám phút sau trái đất mới bị tối sầm lại và cũng lúc đó trái đất mới bị văng ra khỏi quỹ đạo vòng tròn của nó để mà đi theo chuyển động thẳng. Lý do: tám phút là số thì giờ cần thiết để ánh sáng bay đến địa cầu và cũng để cho độ cong của nền không gian trở thành zero sau khi mặt trời biến mất (Khi độ cong của nền không gian trở thành zero, mọi vật sẽ di chuyển theo đường thẳng Euclidean như Newton đã chứng minh)
Một ví dụ khác khá dài dòng: Giả sử có những loài tinh khôn sống ngoài địa cầu ở những khoảng cách xa gần khác nhau, nếu họ có những viễn vọng kính khổng lồ và cực mạnh, họ sẽ thấy gì nếu họ hướng viễn vọng kính đó về Thái Dương Hệ của chúng ta?
Thứ nhất, một loài tinh khôn cách xa trái đất khoảng 5 tỉ năm ánh sáng sẽ không thấy quả đất, mà chỉ thấy một đám bụi vẫn thạch lớn đang xoay tròn. Đám bụi này cách một ngôi sao gọi là mặt trời khoảng 93 triệu dặm. Đối với họ, họ sẽ nghĩ rằng, “một ngôi sao đang phát ánh sáng và một số hành tinh chưa thành hình”
Thứ hai, một loài tinh khôn khác cách trái đất 4.5 tỉ năm quan sát viễn vọng kính sẽ thấy một khối tròn nóng đỏ có hình cầu quay từ từ chậm chạp, cứ khoảng năm tiếng đồng hồ quay được một vòng. Họ kết luận rằng, “hiện giờ, một hành tinh đang thành hình”
Thứ ba, một loài tinh khôn khác sống cách trái đất 650 triệu năm ánh sáng nếu quan sát viễn vọng kính họ sẽ thấy trái đất đầy nước, thảo mộc và những vi sinh vật thể mềm khắp mọi nơi. Họ vui mừng tuyên bố, “đang có sự sống ở một hành tinh xa lạ”
Thứ tư, một loài tinh khôn ở cách trái đất khoảng 65 triệu năm ánh sáng nhìn viễn vọng kính về trái đất, họ sẽ thấy bao nhiêu loài khủng long đủ loại đang bò lổm ngổm khắp quả địa cầu. Nhưng nguy thay, họ vô tình khám phá ra một vẫn thạch khổng lồ đường kính dài hơn 10 dặm đang bay lạc vào quỹ đạo trái đất! Sau đó, nếu họ tiếp tục theo dõi, họ sẽ chứng kiến một cảnh tượng tận thế đang xẩy ra trên trái đất: trái đất bị tảng vẫn thạch đâm vào ở gần vịnh Mễ Tây Cơ, sức tàn phá tương đương hàng trăm triệu quả bom nguyên tử Hiroshima. Sau đó, loài khủng long bị tiêu diệt, bầu trời trở thành tối đen vì bụi vẫn thạch, hầu hết sự sống trên địa cầu bị tận diệt, chỉ trừ một số thú có vú và một số bò sát cũng như cá biển còn sống sót (loài người sở dĩ có mặt ngày hôm nay là cũng nhờ tai biến vô tình này)
Thứ năm, một loài tinh khôn ở cách xa đây trên dưới 2500 năm ánh sáng nhìn viễn vọng kính, họ sẽ thấy trái đất có sự sống có tổ chức. Họ sẽ thấy Vạn Lý Trường Thành đang được xây cất, và nếu nhìn về một chỗ nào đó ở Ấn độ, rất có thể họ sẽ thấy Đức Phật đang thuyết pháp hay đang nhập niết bàn...
Thứ sáu, tương tự như trên, một loài tinh khôn cách đây hơn kém 2000 năm ánh sáng có thể thấy Chúa Jesus ra đời trong một máng cỏ hay đang giảng đạo hay bị hành hình trên thập tự giá...
Thứ bảy, một loài tinh khôn sống trên một hành tinh cách đây khoảng 60 năm ánh sáng đang chứng kiến cái gọi là thế giới đại chiến thứ hai đang diễn ra...
Cuối cùng, tôi đang ngồi viết những giòng chữ này vào một thời điểm gọi là tháng 10 năm 2000 tại California.
Tất cả những loài tinh khôn đó đang có cùng những cảm nghiệm cá nhân “ngay bây giờ” như tôi, nhưng không một ai chứng kiến cùng một sự việc. Sự phân cách trong không gian giữa tôi và họ đã trở thành sự phân cách trong thời gian. Cái hiện tại của tôi trong lúc này trở thành những cái trong tương lai đối với những loài tinh khôn khác trong vũ trụ, và cái quá khứ của tôi đang dần trở nên những sự kiện hiện tại đối với họ.
Và như thế, cả một nền triết học và cơ học của Newton về không thời gian đã trở thành sai lầm, thay vào đó, không thời gian là một khối quyến thuộc duy nhất-space time continuum-và vận tốc tuyệt đối của ánh sáng trong vũ trụ đã làm thay đổi và “tương đối hóa” những ý nghĩa thâm sâu nhất của thời gian và hiện hữu.
Vì thế, có thể tạm kết luận: cảm giác thời gian cũng như tâm thức (hay còn gọi là thức giác) không tự hữu hay có một giá trị hiện hữu tuyệt đối, mà chỉ là những epiphenomena-hiện tượng tùy thuộc vào ngoại cảnh và diễn tiến của sự việc.
Trên đây là một số ý kiến thô thiển của người viết về tâm thức và thời gian viết dựa theo những sách khoa học quen thuộc, xin gửi đến quýbạn đọc.
Nguyễn Hùng Vũ.
TB: Sự bí ẩn của ý niệm thời gian càng gia tăng khi vật lý gia suy nghiệm đến những vị trí bất không thời gian như trong tâm điểm của một lỗ đen, ở một nơi có tính chất vĩnh hằng. Một chiếc đồng hồ đặt ở một điểm cạnh lỗ đen sẽ ngừng chạy, không phải vì hết pin hay hư máy, mà tại vì ảnh hưởng hấp lực đã trở nên cực điểm và ngay chính ánh sáng cũng không vượt thoát nổi sức hút vô biên của trường hấp lực. Những khám phá mới về black holes cho thấy black holes có thể chứa đựng những bí mật sâu thẳm của vũ trụ.