Điểm Sách Hoa Sen và Lượng Tử “The Quantum and the Lotus”


Nguyên Tác “L’Infinity dans la Paume de la Main

Bài điểm này gồm hai phần, phần một tôi có một số ý kiến về bản dịch tiếng Việt của dịch giả Linh Thụy, sau đó tôi xin đề cập đến một số ý kiến của Gs Thuận trong cuốn “Secret Melody” vì một số quan niệm có liên quan đến cuốn này. 




Phần hai tôi sẽ điểm qua một số tư tưởng chính gạn lọc ra từ trong cuốn sách để chúng ta cùng xem vật lý lượng tử và triết lý Phật giáo có những điểm tương đồng như thế nào.

Trước hết, theo tôi, phê bình bản dịch tiếng Việt là một điều cần thiết vì người Việt Nam không phải ai cũng có thể đọc tiếng Pháp hay tiếng Anh. Trừ những bậc khoa bảng hay lớp trẻ mới lớn, đại đa số người Việt vẫn thích đọc tiếng mẹ đẻ và xem tiếng Việt là ngôn ngữ chính. Sử dụng ngoại ngữ là chuyện vạn bấc đắc dĩ .

( Tôi xin cám ơn anh Châu Văn Thọ đã có nhã ý tặng cuốn sách dịch)

Tác phẩm này nguyên tác tiếng Pháp, được Ian Monk dịch ra Anh ngữ. Tôi dùng bản tiếng Anh. Tác phẩm này được một người tên Linh Thụy dịch sang tiếng Việt và được nhà xuất bản Văn Mới phát hành gần đây.

Thú thật với độc giả, tôi đã cố gắng đọc thử bản dịch tiếng Việt nhưng thấy khó hiểu và khó theo dõi vì ngôn ngữ cũng như cách thức dịch thuật của người dịch. Xin thưa rằng tôi hoàn toàn không quen biết Linh Thụy, và tôi biết hoàn tất việc chuyển ngữ một cuốn sách như thế là một kiên nhẫn đáng khen nhưng tiếc rằng, theo ý kiến tôi, dịch giả đã không thành công trong cách diễn đạt tiếng Việt, vốn là một ngôn ngữ khó diễn đạt. Tôi mời độc giả đọc qua một vài câu sau đây:

Một câu trang 176,

“Sự không tách rời lên án tất cả mọi cố thử mô tả thực tế độc lập bằng thuật ngữ của các sự vật định vị trí, và tạo một nghi ngờ lớn trên ý kiến về hiện hữu “tự lập” của không gian-thời gian”

Một câu khác trang 377,

“Kiến thức liên chủ quan do kết quả từ việc hỏi nhiều chứng nhân về sự ước lượng của họ về chiều dài giữa hai đường kẻ.”

Một câu khác trang 263,

“Cho dù vài người đề nghị là sự bất định lượng tử có thể cho phép một ý thức vô vật chất tác động cùng tôn giáo vật lý, ngày nay người ta nghĩ rằng nhị nguyên đó, giả thiết một thực thể vô vật chất có thể điều chỉnh động thái của một hệ thống vật chất...”

Một câu khác trang 178,

“Người ta cho rằng những kẻ bình phàm cứ thủ chấp vào hiện hữu rắn chắc của trường hợp,...”

Một câu khác trang 97,

“Không chỉ các vật thể mới chuyển động, mà chính chúng ta khi đang nhận thức chúng như các vật chỉ bởi ta nhìn các biến cố đó dưới một góc cạnh nào đó.”

Một câu khác cùng trang 97,

“Mô thức lãnh hội thứ triều này kết tinh vài khía cạnh của tổng thể bằng phương cách ảo ảnh thuần túy, và khiến cho ta tưởng nó là các thực thể tự trị mà ta hoàn toàn cách biệt.”

Tôi e rằng đọc những câu dịch như thế này dễ gây rối trí cho người đọc (như tôi) và tôi tạm có một số ý kiến như sau:

* Lối dịch này có thể nói là dịch chữ thay vì dịch ý, và như thế khó làm sáng tỏ câu văn.

* Cách dùng từ ngữ, cách ngắt câu với dấu chấm dấu hỏi, cách xếp đặt mạo từ, liên từ, đại danh từ để tạo sự mạch lạc và khúc chiết cho câu văn bị thiếu sót.

* Người dịch dùng rất nhiều chữ Hán trong những câu dài, điều này làm cho người đọc vất vả trong khi đọc. Dòng tư tưởng vì thế dễ bị rối loạn và cuốn sách dễ trở thành chán nản.

* Dịch sai. Những chữ như “reductionism-quy giản luận” đã bị Linh Thụy dịch là “quy nạp-deductive logic”, chữ “realism-hiện thực phái” bị dịch thành “thực tiễn giáo điều”, “Properties-tính chất” bị dịch thành “sở hữu”, vv.

* Môn vật lý lượng tử và thuyết tương đối vốn là những môn rất khó diễn tả bằng thứ ngôn ngữ abc thường ngày vì tính chất trừu tượng của nó. Đọc cách Linh Thụy diễn dịch thí nghiệm EPR hay thí nghiệm thuyết tương đối, là những thứ thí nghiệm tưởng tượng của Einstein, cho tôi đi đến một kết luận là cách dịch không được sáng tỏ và thoát ý.

* Tôi không hiểu dịch giả sau khi dịch xong có đưa bản thảo cho Gs Thuận duyệt qua và được ông đồng ý cho in hay không? Việc này là một việc quan trọng và cần thiết vì nó có thể làm cho uy tín tác giả bị ảnh hưởng qua một bản dịch không được sáng sủa và rành mạch.

(Sau khi đọc qua bản dịch, tôi đọc lại bản tiếng Anh, và thấy dễ hiểu, ví dụ như câu ở trang 97 tôi có thể dịch là,

“Đối với sự quan sát của ta, mọi thứ luôn luôn ở trạng thái di chuyển không ngừng, và cũng chính vì lý do không ngừng di chuyển mà ta mới xem những thứ đó là sự vật”

Câu này cho thấy Matthieu Ricard tương đối sâu sắc trong việc diễn tả những quan niệm về “tĩnh động” và “vật thể” trong triết lý đông phương về sự vật-things.)

Tôi rất tiếc phải kết luận: sự chuyển ngữ và trình bày những tư tưởng, quan niệm về vật lý, tâm não, Phật học bị khuyết điểm. Tôi cũng thông cảm với Linh Thụy một điều khó khăn trong việc dịch thuật, đó là những quan niệm này trừu tượng, thâm sâu và rất uyển chuyển linh động trong ý nghĩa, tùy thuộc khả năng học vấn và trình độ tu tập của người đọc mà trở thành dễ hay khó hiểu.

Tôi nghĩ rằng nếu dịch một cuốn truyện tiểu thuyết tương đối dễ, dịch một áng văn vần sẽ khó hơn, nhưng dịch thoát ý được những tư tưởng thâm áo về triết lý Phật học và tri thức luận khoa học là chuyện khó gấp nhiều lần. Độc giả của loại sách này phải nói là hiếm, và tôi nghĩ họ không có đủ kiên nhẫn để đọc hết một cuốn sách dịch như thế.

Một vật lý gia đã nói rằng ông ta“nghĩ” là ông ta hiểu cơ học lượng tử. Tuy nhiên, ông ta cũng được trao giải Nobel và cũng viết được mấy cuốn sách gọi là “Quantum theories of Fields-Những lý thuyết về cơ học trường nguyên lượng” dành cho giáo sư vật lý đại học dùng để dạy học. Một vật lý gia khác tuyên bố cơ học lượng tử là một môn học không ai hiểu nổi và ông này cũng được trao giải Nobel vì đã có công khám phá ra môn “Động điện trường nguyên lượng-Quantum Electrodynamics.”

Vì thế, dịch hay viết về thuyết tương đối hay lượng tử là một vấn đề khó.

Tôi thiết nghĩ độc giả nên cẩn thận với những loại sách dịch như cuốn này.

Tôi cảm thấy yên tâm hơn khi giới thiệu cùng độc giả những sách do Thích Nhất Hạnh viết. Thầy Nhất Hạnh là một cao tăng người Việt Nam có tài sư phạm, một giáo sư nhiều năm kinh nghiệm cầm bút và đã viết nhiều tác phẩm dễ hiểu cho đại chúng khắp thế giới đọc.

Ngoài ra, muốn lãnh hội được những bàn cãi giữa Matthieu và Thuận trong HSLT, tôi nghĩ người đọc cũng cần nên có một chút kiến thức tổng quát về những lý thuyết đương thời về cơ học lượng tử, như thuyết Mô Hình Chuẩn-Standard Model và Trường Tổng Hợp-Unified Field Theory. Vì thế tôi đề nghị những độc giả nào không quen thuộc với môn vật lý lượng tử hãy đọc qua những cuốn sách đơn giản dành cho đại chúng trước khi đọc HSLT vì cuốn Hoa Sen Lượng Tử đề cập đến quá nhiều lý thuyết, kể cả lý thuyết về siêu vi tuyến-Superstrings, và những thuyết về vũ trụ quan. Những vấn đề Matthieu và Thuận hội thảo bao gồm một số ý niệm toán học trừu tượng. Không những thế, những thí nghiệm như EPR, Bell theorem, cũng cần phải được hiểu qua.

Tôi đã đọc cuốn HSLT và có những cảm tưởng khá dè dặt về nó. Tôi sẽ đề cập chi tiết hơn trong phần hai.

Dù sao, tôi cũng nhìn nhận việc dịch thuật này là một nỗ lực đáng quý của Linh Thụy.

Đến đây, tôi xin đề cập đến một vấn đề khác. Trong cuốn HSLT, ông Thuận có nhắc đến một số khoa học gia trong đó có vật lý gia người Mỹ tên Steven Weinberg. Ông này có một vài phát biểu cá nhân đã được ông Thuận đem ra phê bình trong hai cuốn Secret Melody và HSLT. Tôi muốn trình bày câu chuyện ấy với độc giả.

Chuyện bắt đầu như sau: Trong cuốn The Secret Melody, ông Thuận nhắc đến câu nói của Weinberg sau đây,

“The more the universe becomes understandable, the more it also seems pointless-Chúng ta càng hiểu vũ trụ chừng nào thì chúng ta càng thấy nó vô nghĩa chừng nấy”

Câu này đã được ông Thuận và nhiều triết gia, bình luận gia khoa học mổ xẻ bàn cãi. Đây là một hành vi thiếu cân nhắc trong việc phê bình.

Thực ra, khi nói câu ấy trong cương vị một vật lý gia, Weinberg chỉ có ý muốn nói rằng nếu chúng ta nghĩ rằng kiến thức về khoa học sẽ giúp phần đem lại ý nghĩa cho vũ trụ thì đó là một hy vọng đặt không đúng chỗ vì khoa học không có mục đích giúp con người đi tìm ý nghĩa. “Ý nghĩa” là một giá trị khó nắm bắt, nó thuộc về và nẩy sinh từ những gì thuộc đời sống tình cảm nội tâm con người và những tập quán xẩy ra trong gia đình, xã hội, trên những bình diện cá nhân hay tập thể cộng đồng. Ý nghĩa cũng có thể hiểu là một khả năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần hay vật chất. Với một con sư tử đang đói bụng, thì một anh mọi Phi Châu và một con sơn dương có “ý nghĩa” như nhau. Với những bà cô nào thích chưng diện, thì kim cương rất có “ý nghĩa” trong việc phục sức. Với những bậc giác ngộ như đức Phật, ý nghĩa cuộc đời không hề nằm ở trong những tin tưởng có tính cách không tưởng và siêu hình, mà nằm ở ngay trong cuộc sống bình thường đơn giản thanh đạm hàng ngày.

Khoa học có thể phân tách một tấu khúc của Mozart nhưng không thể giúp chúng ta đánh giá bản nhạc trữ tình và ý nghĩa như thế nào cho những ai thích nghe nhạc. Mặt trăng là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu thi sĩ và khách ngắm trăng, nhưng dưới kính viễn vọng thì “chị Hằng” đầy thơ mộng chỉ là một vệ tinh đất đá với hàng triệu núi lửa đã tắt nhìn thấy như khuôn mặt rỗ chằng rỗ chịt, nhưng không vì vậy mà mặt trăng mất đi vẻ đẹp và nên thơ đầy ý nghĩa của nó.

Khoa học đi tìm sự thật. Sự thật vốn mất lòng và tàn nhẫn. Weinberg chỉ nói ra sự thật.

Nhưng nếu sự việc chỉ có vậy thì tôi không cần phải biện hộ cho Weinberg. Sở dĩ câu chuyện còn dài là tại vì ông Thuận cũng đã dùng câu nói trên vào một lý luận mà tôi nghĩ rằng trái ngược với một triết lý quan trọng của Phật giáo, tuy rằng ông Thuận vô tình. Và đây mới là vấn đề tôi muốn trình bầy:

Trước hết, tôi nghĩ Gs Thuận là một học giả có tâm hồn rộng rãi, khoáng đạt, và ông có lẽ muốn dung hòa nhiều triết lý tín ngưỡng khác nhau, cũng giống như một tín đồ đi nhà thờ lẫn nhà chùa và không phân biệt đâu là Chúa đâu là Phật. Hãy cứ tạm xem đó là một thái độ “vô chấp” của những người dễ dãi. Nhưng có lẽ vì thế mà ông Thuận dường như không có thiện cảm với ngôn ngữ của Weinberg vì thái độ vô thần của ông này.

Tôi xin đưa ra một dẫn chứng trong tác phẩm Secret Melody để bạn đọc thấy rằng ông Thuận tuy là một Phật tử nhưng ông tin tưởng rằng có Thượng Đế, tác giả của vũ trụ. Sau đó, tôi sẽ phân tích từng điểm một.

Trang 249 trong tiết mục “ThượngĐế và BigBang”, ông Thuận tuyên bố,

“For myself, I am prepared to bet on the existence of a supreme being.”

Tôi xin tạm dịch, “Về phần tôi, tôi sẵn sàng đánh cuộc rằng một đấng tối cao hiện hữu.”

Chữ supreme being là một trong nhiều nhãn hiệu gán cho quan niệm thần của KiTô giáo hay những tôn giáo thờ thần khác. Ta quen gọi là Thượng Đế, Chúa, ông Trời, đấng tối cao, tạo hóa, đấng chí tôn, Allah, vv.

Ông Thuận đưa ra quan điểm “tin vào Thượng Đế cuộc đời sẽ có ý nghĩa và hy vọng hơn là không tin.” Đây là một tín lý quen thuộc của KiTô giáo. Nó là quan niệm của Blaise Pascal, một toán gia và triết gia. Pascal đã lý luận “tin rằng có Thượng Đế sẽ có lợi hơn là không tin” và ông ta lý luận như vậy trong câu chuyện về vai trò “người đánh cuộc sau cùng-the final wager”. Cũng vì tín lý này mà KiTô giáo trong nhiều thế kỷ qua đã coi thường những tôn giáo phi-thần như Phật giáo, coi Phật giáo là “không có cội nguồn”

Trở lại mục “Thượng Đế và BigBang” trang 240. Đây là một chương có mùi vị siêu hình trong một cuốn sách khoa học, và ông Thuận đã khéo léo đặt nó vào chương trước chương cuối để nói về Thượng Đế. Có lẽ ý ông muốn nói khoa học dù tiến triển đến đâu cũng không ra khỏi những băn khoăn thắc mắc siêu hình. Điều này cho tôi thấy tầm mức suy tưởng của ông Thuận tuy khá cao nhưng chưa đạt được trình độ phi thần của những người như Weinberg, Einstein, Russell.

Trong những trang đầu của chương thứ 8, người đọc thấy ông Thuận dùng lý lẽ khoa học và một số biện chứng triết lý cũ của Kant, dường như để bác bỏ sự hiện hữu của Thượng Đế, nhưng đến tiểu tiết mục “The final wager-Người đánh ván bài tháu cáy” trang 248, ông Thuận đã có một quyết định trái ngược một cách bất ngờ, đó là việc ông tin vào sự có mặt của Thượng Đế trong việc tạo dựng ra vũ trụ.

Ông Thuận đưa ra HAI trường hợp về nguyên nhân tạo ra sự hiện diện của vũ trụ, đó là:

*Trường hợp thứ nhất, vũ trụ chúng ta là do Thượng Đế làm ra.

Ông ta lý luận như sau-tôi xin lập lại nguyên văn câu nói của ông Thuận,

“We can invoke a supreme being, who is the author of these laws, and who has planned and fine tuned everything-Chúng ta có thể viện dẫn đến một thượng đế, là tác giả của những định luật vật lý, đã an bài xếp đặt và chọn lọc tinh vi tất cả mọi sự”

*Trường hợp thứ hai, vũ trụ chúng ta là một trong những vũ trụ đồng hành-còn gọi là vũ trụ song song-xuất hiện do tình cờ.

Ông Thuận bác bỏ thuyết “vũ trụ song song” qua lý luận như sau,

“I find the hypothesis of innumerable universes, all inaccessible to observation, to be rather unwarranted-Tôi thấy giả thuyết vô số vũ trụ song song, không có cái nào có thể quan sát được, là một thứ giả thuyết vô căn cứ”

Sau khi bác bỏ thuyết vũ trụ song song, dĩ nhiên ông Thuận chỉ còn một chọn lựa duy nhất, đó là niềm tin vào một Thượng Đế đã thành lập ra vũ trụ này gồm những định luật vật lý với những trị số do chính Thượng Đế cẩn thận đong đo lựa chọn.

Nếu người đọc thắc mắc, xin đọc nguyên tiết mục từ trang 240-249 để hiểu rõ những lý luận tinh vi của ông Thuận và tại sao tôi nói như vậy.

Tôi xin nói thêm: lý luận ông Thuận đang dùng này tương tự niềm tin của những nhóm người chống đối thuyết tiến hóa gọi chung là ID group, chữ viết tắt của chữ “Intelligent Design-Sáng chế khôn ngoan” Nhóm này cho rằng chính Thượng Đế đã táy máy vào những định luật vật lý, thêm bớt gia giảm cân lượng như một bà nội trợ nấu canh cho mắm muối gia vị vào nồi, và từ những cân lượng chính xác đó, sự sống mới có thể xuất hiện và từ trong nồi bò ra! Theo nhóm này, nếu Thượng Đế không cẩn thận thêm bớt những hằng số tiên khởi-initial conditions and physical constants, thì loài người khôn ngoan chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội xuất hiện. Đó là lý luận của họ.

Tuy nhiên, tôi sợ ông Thuận và nhóm người này đã lầm. Xin đọc cuốn “Facing Up-Ngẩng Mặt Thách Đố, một cuốn sách do chính Weinberg viết để tự trả lời những ngộ nhận về ông. Trong đó Weinberg có viết một bài dài trả lời đâu ra đó. Chưa thấy có ai đủ sức đối đáp những lý luận sắc bén và chính xác của Weinberg về những điểm tinh yếu của vật lý lượng tử ( Đọc cuốn Facing Up, trang 230-242.)

(Tôi xin nói thêm, vật lý gia Lee Smolin đưa ra thuyết “vũ trụ tiến hóa luận-cosmos Darwinism” là một trong những thuyết nhằm giải thích tính chất có sự sống của vũ trụ này trên một bình diện khoa học và vì thế được giới khoa học tạm chấp nhận. Ông là vật lý gia khởi xướng ra thuyết loop-quantum-gravity.)

Trở lại câu chuyện. Ông Thuận kết luận “phiên tòa xử” bằng lý luận ông viết sau đây,

“Finally, betting on chance implies nonsense and despair, as witness the cries of distress by Monod and Weinberg. Why not, then, bet rather on sense and hope-Cuối cùng, tin vào thuyết tình cờ ám chỉ một cuộc sống phi lý và vô hy vọng, như Monod và Weinberg đã than thở một cách buồn bã thảm thương, vậy tại sao chúng ta lại không quyết định tin vào những gì có ý nghĩa và hy vọng.”

Câu này ông Thuận có ý gián tiếp nói rằng tin vào Thượng Đế là một tin tưởng “có ý nghĩa và hy vọng”, ngược lại, tin vào thuyết tình cờ sẽ đem con người đến những kết luận phi nghĩa, tuyệt vọng về cuộc đời như những lời than vãn của Monod, Weinberg.

Và thưa độc giả, đây là vấn đề tôi thấy cần phân tích.

Qua câu nói trên, tôi có cảm tưởng ông Thuận đã vô tình phủ bác triết lý phi-thần của Phật giáo và chấp nhận một vũ trụ hữu thần. Tuy ông không nói thẳng rằng Phật giáo là thứ triết lý của tuyệt vọng (despair) và nhảm nhí (nonsense) nhưng lý luận của ông khiến độc giả như tôi gián tiếp suy luận ra như vậy.

Tại sao? Xin đáp: ông Thuận dường như quên rằng thuyết duyên khởi của Phật giáo đặt nền tảng trên sự ngẫu nhiên và tình cờ. Phật giáo phủ bác quan niệm về bất cứ một thứ thần thánh thượng đế nào. Không những thế, Phật giáo còn phủ nhận những nguyên lý như nhân chủng-anthropic, đã được ông Thuận chấp nhận. Matthieu Ricard đã phủ nhận nguyên lý này trong cuốn HSLT.

Theo tôi, Phật giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới xiển dương một triết lý “cởi trói” và”trả tự do” cho sự hiện hữu của con người. Tại sao? Vì Phật giáo hoàn toàn phủ nhận nguyên lý “tiên định-pre-deternined” Có nghĩa là Phật giáo chủ trương rằng sự vật và con người tự nó hiện hữu vì những tương quan nhân quả trong vũ trụ mà không cần đến sự nhào nặn mó máy của một bàn tay thần thánh hay Thượng đế nào. Đây là một điểm nền tảng nòng cốt vô cùng quan trọng mà bất cứ một Phật tử nào cũng không thể không biết.

(Tôi xin nhấn mạnh: Tôi không hề nghĩ gs Thuận có ý chê bai Phật giáo, vì dầu sao ông cũng ở trong một gia đình theo đạo Phật và tư tưởng của ông hàm súc những triết lý của Phật giáo bàng bạc trải dài trong những tác phẩm khoa học. Có thể ông chỉ có một bất đồng ý kiến nhỏ.)

Tôi nói thêm, Jacques Monod(đã chết) và Weinberg là những khoa học gia tên tuổi hiện đại, cả hai đều có giải Nobel. Họ là những khoa học gia phi-thần có những suy nghĩ hiện sinh về sự tàn nhẫn đầy đọa phi lý của kiếp người cho nên đã có những than thở xuất phát từ nội tâm.

Đức Phật ngày xưa khi là một hoàng tử trẻ tuổi chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, lên voi xuống ngựa, nhưng điều gì đã làm đức Phật xúc động trước một thây người chết và những đầy đọa của một thân xác đã bị bệnh hoạn và tuổi tác tàn phá? Ai có thể phàn nàn gì trước sự xúc động của một tâm hồn như đức Phật? Đức Phật là người đã đi tìm một triết lý sống để hậu thế mỗi một người trong chúng ta có thể tự trả lời một cách tích cực cho những vấn nạn sống và chết của kiếp người trong cuộc đời này mà không cần đến bàn tay giúp đỡ của một thần thánh nào, trong khi đó, nền triết lý của những tôn giáo hữu thần vẫn còn vướng mắc trong vòng ngục tù giam hãm của một giả thuyết về Thượng Đế đứng ngoài cuộc đời và đứng ngoài vũ trụ.

Monod và Weinberg cũng đã có cùng những cảm nghiệm đó (như đức Phật) trước những biến đổi vô thường của thời đại này. Ai có quyền phàn nàn gì về sự than thở của họ?

Nhưng gs Thuận, tôi không hiểu vì sao, đã nhân dịp này dùng những cảm quan của họ như một bằng chứng để sử dụng vào mục tiêu của ông.

Độc giả nghĩ sao?

Để trở lại vấn đề trên. Lý luận của gs Thuận trong sự chọn lựa cho thấy ông vô lý, rất vô lý. Đó là:

Thứ nhất, ông không giải thích cho người đọc biết tại sao tin vào một quan niệm siêu hình và vô bằng chứng như Thượng Đế sẽ đem lại cho con người sự hợp lý và hy vọng?

Xin nhắc lại câu nói gợi ý của ông, “Why not, then, bet on sense and hope?”

Tôi xin nói rõ là ông Thuận không trực tiếp đề nghị độc giả hãy tin vào Thượng đế, ông chỉ hỏi khéo, “Tại sao không đánh cuộc vào những gì mang ý nghĩa và hy vọng?”

Tôi thắc mắc và xin hỏi, “Tại sao tin vào một quan niệm siêu hình như Thượng Đế lại có thể mang ý nghĩa và hy vọng? Ý nghĩa gì? Hy vọng nào?”

Nếu ông Thuận không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi trên thì tôi sợ rằng câu nói của ông sẽ có tính chất “dogmatic-giáo điều” giống như câu mời chào của KiTô giáo, “Hãy tin Chúa Jesus thì sẽ được hưởng phước và lên thiên đàng sống đời đời”

Thứ hai, ông Thuận đưa ra một quan niệm của một vật lý gia tên Hugh Everett về giả thuyết vũ trụ song song để bác bỏ.

Giả thuyết vũ trụ song song có một xuất xứ từ thuyết lượng tử. Hugh Everett đưa ra để tạm giải đáp một khó khăn có liên quan đến vấn đề hàm sóng-wave function, sự chuyển thể của hàm sóng-collapse of wave function và những nguyên lý như “superposition principle-nguyên lý đồng vị” Những vấn đề này rất trừu tượng và tôi không thể trình bày dài dòng trong một bài điểm. Dùng nó trong một lý luận là thiếu logic.

Trở lại câu chuyện với hai giả thuyết trong tay, một là Thượng Đế, hai là vũ trụ song song. Hai giả thuyết đều là những giả thuyết siêu hình, vô căn cứ. Cả hai đều không thể quan sát, không thể kiểm chứng, và quan trọng nhất là chúng không thể dùng trong một cuộc tranh luận như những “admissible evidences-bằng chứng có thể cho phép dùng trong một phiên tòa”.

Nhưng ông Thuận vẫn tự ý “bỏ một chọn một” và ông còn chê giả thuyết vũ trụ song song là “unobservable-không quan sát được” và “unwarranted-không bảo đảm”

Vậy tôi xin hỏi ngược lại, “Thượng Đế có quan sát được không? Có phải là một giả dụ có bằng chứng bảo đảm không?”

(Tôi có thể khôi hài nói rằng Thượng Đế có thể kiểm chứng được vì sẽ có bao nhiêu cha xứ hay linh mục sẵn sàng bảo đảm là Thượng Đế có thật, ai vào nhà thờ là cũng sẽ nhìn thấy ngay!)

Một lần nữa, hỏi, tức là trả lời.

Gs Thuận còn viện dẫn thêm những triết gia khoa học như Popper để phục vụ cho lý luận ông. Tiếc rằng điều đó cũng không hợp lý vì Popper đã nói rất rõ như sau,


“Những hiện tượng nào không thể quan sát hay không thể bị phủ bác là những thứ thuộc về trò ma quái ảo thuật hay siêu hình, không phải lãnh vực của khoa học.”

Theo lời Popper như trên thì giả thuyết Thượng Đế chắc chắn phải nằm trong phạm trù siêu hình vì không chứng minh hay phủ bác được, vậy thì nó có khác gì giả thuyết vũ trụ song song đâu? khoa học ở chỗ nào? bảo đảm và quan sát được ở chỗ nào?

Ông Thuận còn nói thêm,

“Science is no great help when it is a question of faith,...,They have to make a wager, just like Pascal-Khoa học không giúp gì con người được trong lãnh vực đức tin, khoa học gia cũng phải liều quyết định đánh cuộc với niềm tin mà thôi, như Pascal đã làm”

Lúc đọc đến đoạn này cách đây mấy năm, tôi ngạc nhiên. Gs Thuận, một khoa học gia, một giáo sư đại học, một Phật tử, đã dựa theo thứ lý luận của anh chàng nhút nhát sợ chết Pascal để làm công việc rao hàng như một mục sư truyền giáo!

Nhưng đó là sự thật!

Trong chương này, gs Thuận lôi kéo khoa học vào những vấn đề thần học mà không nhớ rằng thái độ của khoa học gia thường là họ hoàn toàn không để ý đến những gì thuộc lãnh vực thần học hay tín ngưỡng. Tin hay không tin, đó là chuyện cá nhân ngoài giờ làm việc. Trong lãnh vực khảo cứu khoa học, khoa học gia muốn tìm hiểu cách thức thiên nhiên hoạt động cũng như sự thật khách quan. Mục đích và cứu cánh của khoa học gia là khám phá những sự thật trong thiên nhiên, không phải để đi đến một kết luận siêu hình về ý nghĩa và hy vọng.

(Cũng có những khoa học gia có những cảm quan siêu hình, nhưng điều này thuộc phạm vi tâm linh cá nhân mỗi người, không thuộc khoa học.)

Tôi có thể chấp nhận những giả thuyết khác nhau về sự hiện diện của vũ trụ nhưng với điều kiện chúng phải có cùng một bình diện khoa học, và có thể chứng minh bằng cách này hay cách khác.

Tôi kết luận: chương thứ 8 là một chương đi ra ngoài đề, không giống những chương khác. Có lẽ chương này gs Thuận viết để nhằm thu hút và để phục vụ độc giả Âu Mỹ theo tín ngưỡng KiTô hơn là để trình bày những sự kiện khoa học một cách vô tư ( Cuốn sách này nguyên bản tiếng Pháp)

Trong cuốn HoaSenLượngTử, gs Thuận một lần nữa nêu tên Weinberg ra và chê ông này là sai lầm. Tôi đã đọc và không thấy có gì là sai lầm vì chỉ là những quan điểm cá nhân khác nhau về tôn giáo. Những điều Weinberg nói phản ảnh sự thật. Và mặc dầu lời lẽ Weinberg không được ôn hòa và tích cực, nhưng điều đó không có nghĩa là Weinberg sai.

Liên tiếp chỉ trích một người trong hai tác phẩm của mình là một điều không được tế nhị. Là người đọc, tôi nghĩ rằng gs Thuận có một sự bất thiện cảm nào đó đối với Weinberg.

Weinberg là một vật lý gia thuộc hàng cao thủ thế giới. Ông và hai đồng nghiệp đoạt giải vật lý Nobel năm 1979 khi thành công trong việc tổng hợp lực nguyên tử yếu và lực điện từ làm một lực. Ông Thuận đã có thể phê bình một cách lịch sự hơn, chẳng hạn như, “Tôi không có cùng quan điểm” hay “Tôi không đồng ý” thay vì dùng chữ “sai” vì chữ sai chỉ được dùng cho những trường hợp có thể chứng minh đúng, sai.

Để tóm tắt câu chuyện, tôi thấy rằng gs Thuận tuy là một Phật tử nhưng suy nghĩ và chọn lựa của ông trái nghịch với triết lý Phật giáo. Điều đó làm cho tôi có cảm tưởng ông đang đi hàng hai một cách thiếu quả quyết giữa hai triết lý đông và tây, “tiên định” và “ngẫu nhiên”.

Tuy vậy, những sách của gs Thuận dĩ nhiên không vì thế mà mất đi giá trị, cũng như không phải vì thế mà những gì ông phát biểu trở nên không cần đáng nghe. Ông là một người kiến thức cao, suy luận sâu xa và vững vàng. Tôi xem ông là một trong những khoa học gia Việt Nam có trọng lượng, đang làm một công việc khó khăn nhưng cần thiết.

Để công bằng, tôi xin nói rằng tôi xem cuốn Secret Melody là một cuốn sách hay, đầy đủ, và tôi nghĩ đây chỉ là một tì vết nhỏ trong một tác phẩm khoa học có giá trị lớn.

(Tôi cũng xin giới thiệu tác phẩm “Hỗn Mang và Hài Hòa” của gs Thuận, một tổng hợp khoa học biên soạn có giá trị rất nên đọc.)

Tôi hy vọng tôi đã làm được một việc tôi cần phải làm của một độc giả: biện hộ cho vật lý gia Weinberg, cũng như trình bầy một điểm tinh yếu của triết lý Phật giáo trong khuôn khổ giới hạn của tôi.

Điểm sách: Hoa Sen và Lượng Tử (Phần hai-tiếp theo kỳ trước)

Cách đây khoảng 20 năm, một vật lý gia trẻ tuổi tên Fritjof Capra viết cuốn The Tao of Physics, được xem là cuốn sách tiêu biểu khởi đầu cho một phong trào văn hóa mới với nhiều sách nghiên cứu về những tương quan giữa môn vật lý học và triết lý Đông phương. Phong trào này được biết là “New Age”.

Hoa Sen và Lượng Tử ( viết tắt HSLT) là cuốn sách mới nhất thuộc khuynh hướng này. Đây là một tác phẩm viết dưới dạng đối thoại của hai tác giả Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận. Sách dầy 312 trang, nhà xuất bản Crown, NewYork, năm 2001. Cuốn sách đã được đức Đạt Lai Lạt Ma phê bình như sau,

“Cuốn sách là một thành quả mỹ mãn của một cuộc đối thoại sâu sắc giữa khoa học Tây phương và Triết lý Phật giáo. Tác phẩm đáng kể này sẽ là một đóng góp lớn giúp chúng ta đi tìm ý nghĩa thật sự của thiên nhiên cũng như giúp ta trong cách xử thế và ăn ở trên đời.”

Matthieu Ricard, tăng sĩ Phật giáo người Pháp được biết tiếng qua tác phẩm “Tăng Sĩ và Triết Gia”. Xuất thân một khoa học gia, ông bỏ nghề, thí phát đi tu. Hiện ông sống và tu tập tại Nepal và là dịch giả Pháp ngữ của đức Lạt Ma.

Trịnh Xuân Thuận, thiên văn gia và vật lý không gian, được biết tiếng qua những tác phẩm khoa học giá trị như “Giai Điệu Bí Mật”, “Hỗn Mang và Hài Hòa”. Ông xuất thân từ đại học CalTech tại Pasadena, California. Theo tôi biết, ông hiện là chuyên gia nghiên cứu sự tạo thành của những nhóm thiên hà-galaxy formation. Ở Mỹ, ông Thuận là một thiên văn gia không mấy nổi tiếng. Tại Pháp, ông được biết đến nhiều hơn vì những sách ông viết. Tôi nghe nói độc giả Pháp xem ông như Carl Sagan, một người truyền bá kiến thức khoa học phổ thông cho đại chúng (science popularizer)

Hai người gặp nhau tại một hội đồng đại học năm 1997. Cơ duyên đến với họ khi họ đưa ra một số đề tài vật lý và triết học Phật giáo để cùng thảo luận. Tác phẩm này là tập hợp của những buổi nói chuyện ấy.

Tác phẩm gồm 15 chương. Mỗi chương thảo luận về một đề tài khác nhau. Với những độc giả không quen thuộc với những khám phá mới của khoa vật lý hiện đại cũng như những quan niệm trừu tượng của đạo học tôi sợ rằng cuốn sách không hấp dẫn vì nó chuyên chở nhiều vấn đề thuộc lãnh vực vật lý lượng tử và siêu hình học đông phương, những vấn đề “hình nhi thượng” không quen thuộc trong đời sống thường ngày.

Trước khi vào chuyện, tôi cũng xin có chút ý kiến về loại sách này. Giới khoa học gia nói chung có khuynh hướng nghi ngờ, nếu không muốn nói là coi thường loại sách pha trộn này. Tôi xin đưa ra một vài ví dụ:

-Leon Lederman, vật lý gia nổi tiếng đoạt giải Nobel, đã châm biếm thứ tương quan khoa học/huyền học. Ông xem nó là việc làm thiếu tinh thần khoa học và diễu cợt rằng người ta cũng có thể tìm thấy những tương quan giữa môn vật lý, môn thiền học, và lối nấu ăn Tầu tỉnh Hồ Nam.

-Stephen Hawking, vật lý gia tật nguyền nổi tiếng thế giới, đã phê bình nặng nề việc so sánh những tương quan này là “trò rác rến-rubbish”.

-Trong cuốn Quantum Generations, sử gia khoa học Helge Kragh nói rằng những khía cạnh siêu hình của vật lý lượng tử không được chú trọng và khoa học gia không xem đó là những bí ẩn cần nghiên cứu.

-Một vật lý gia khác, David Lindley, phê bình rằng không có gì tương đồng giữa khoa học và triết lý đông phương và ông cho rằng sự tương quan ấy chỉ là những ngộ nhận của thứ ngôn ngữ trừu tượng mà ra. Triết lý Đông phương có những trừu tượng của nó, khoa học lượng tử cũng có những trừu tượng của nó, và người đọc nếu không vội vàng nhận xét kỹ thường cho là khoa học và đạo học “gặp nhau” chỉ vỉ những trùng hợp vô tình của ngôn ngữ.

-Gerard t’ Hoft, vật lý gia giải Nobel, cũng đã cảnh giác người đọc về lối so sánh khoa học trộn đạo học này.

Theo tôi biết, trong số những vật lý gia nổi tiếng thế kỷ trước, có một vài người ưa chuộng triết lý Phật giáo và Đông phương nói chung, nhưng điều này không có nghĩa là phải có những điểm tương đồng giữa đạo học và vật lý học. Một vài ví dụ:

_Niels Bohr, một vật lý gia, đã ưa chuộng nguyên lý Âm Dương của triết lý đông phương vì nguyên lý này phảng phất giống lối suy nghĩ của ông về quan niệm “complementarity-hổ tương” nhưng điều này không có nghĩa gì đặc biệt trong cách làm việc của ông trong việc thành lập thuyết lượng tử.

_Vật lý gia Murray-Gellman khi tạo ra quark theory, đã đùa nghịch dùng triết lý “Bát chánh đạo-Eightfold way” của Phật giáo vào trong mô hình quark. Sự nghịch ngợm này của ông có thể bị người đời hiểu lầm là mô hình quark và triết lý bát chánh đạo giống nhau. Thực ra điều này chỉ có tính cách khôi hài, hoàn toàn không có những liên quan giữa thuyết bát chánh của Phật giáo và vật lý học.

_Heisenberg, Schrodinger là những tên tuổi lớn trong thế giới vật lý, họ có chung những cảm nghiệm tâm linh phảng phất mùi vị triết lý đông phương và họ cũng đã là những người tìm hiểu học thuyết đông phương. Nhưng theo tôi đây chỉ là những cảm quan cá nhân đi ra ngoài phạm vi khoa học, không liên quan gì đến cách thức họ sử dụng toán học để khám phá bản chất sự vật.

_David Bohm, một vật lý gia khá nổi tiếng và là một huyền nhiệm gia với thuyết “implicate order” cũng như những quan niệm như “quantum potential” “enfolding reality” Ông viết khá nhiều sách có liên quan đến những quan niệm của triết học siêu hình Đông phương có một thời làm say mê một số đông “đệ tử” theo phong trào New Age nhưng việc làm của ông thường bị nhìn bằng cặp mắt nghi ngờ của giới khoa học chính thống.

Theo tôi, trên một phương diện, cuốn HSLT cũng phần nào tương tự như cuốn The Quark and The Jaguar của vật lý gia Murray-Gellman, xuất bản năm 1994. Ông ta viết cuốn sách đó vì muốn trình bày những điểm giống nhau giữa bản chất đơn giản-simplicity của vi hạt quark, và trạng thái phức tạp-complexity, của một sinh vật như con beo Jaguar. Cuốn sách không được thành công như những cuốn của Stephen Hawking.

Khuynh hướng dùng khoa học để “chứng minh” thần học là một khuynh hướng thường xẩy ra. Những khoa học gia theo KiTô giáo cũng đã dùng thuyết tiến hóa và thuyết BigBang để “chứng minh” rằng những chuyện cổ tích trong Kinh thánh phản ảnh sự thật và Thượng Đế là một đấng hằng hữu có thật. Họ cho rằng nếu chúng ta cảm thấy có vấn đề thì vấn đề nằm ở cách chúng ta đọc và hiểu kinh thánh chứ không phải kinh thánh sai. Ví dụ như trong thập niên 1950 giáo hoàng Pius XII của Vatican đã tuyên bố là thuyết BigBang là một chứng minh điển hình cho sự sáng tạo trong sách Sáng Thế Ký. BigBang là khởi điểm của sự tạo dựng ra vũ trụ do bàn tay của Thượng Đế.

Tôi đã đọc một số tác phẩm của vài khoa học gia, giáo sư đại học thuộc KiTô giáo viết về những tương quan giữa khoa học và thánh kinh. Một vài người điển hình như Gerald Schroeder, John Polkinghorne, William Craig, Kenneth Miller, Phillip Johnson. Những người này trình độ học vấn cao cấp và đã viết nhiều sách để “chứng minh” cho sự hiện hữu của Thượng Đế bằng những khám phá khoa học, kể cả thuyết tiến hóa. Dĩ nhiên, những lý luận của họ rất tinh vi và khôn khéo. Muốn hiểu được và bẻ gẫy được những lý luận của họ đòi hỏi người đọc phải có một trình độ tương đối cao.

Trên một phương diện, cuốn Hoa Sen Lượng Tử đã đi vào vết bánh xe cũ, ra ngoài truyền thống khoa học chân chính. Và đây là một việc làm tương đối nguy hiểm có thể gây ảnh hưởng cho nghề nghiệp của người viết. Tuy nhiên theo tôi, ông Thuận thừa khôn ngoan để biết cuốn sách sẽ có ảnh hưởng gì đến tiếng tăm của ông. Là một người thông minh, uyên bác, am tường cặn kẽ những vấn đề khoa học vật lý cũng như biết được địa vị của mình trong giới khoa bảng Mỹ, tôi tin chắc ông Thuận phải có những lý do sâu xa và cần thiết thúc đẩy ông cộng tác với Matthieu trong việc viết cuốn HSLT.

Trở lại cuốn HSLT, theo tôi, nếu giữ được tinh thần khách quan thì cuốn sách cũng có những điểm đáng đọc, tuy rằng những vấn đề đã cũ, đã được bàn cãi từ khá lâu trong quá nhiều sách báo và không còn là những đề tài nóng hổi và “hợp thời trang” như những thập niên trước.

Theo nhận xét của tôi, nói theo ngôn ngữ thông thường đôi khi cũng có thể có những trùng hợp tương tự về nhận thức của những trí tuệ lớn. Tôi lấy ví dụ hai phát biểu sau đây. Câu thứ nhất,

“Không gian sẽ không còn tính chất thực hữu của nó nếu không có những sự vật đây đó như mặt trời hay mặt trăng”

Câu thứ hai,

“Vật chất là yếu tố cần thiết tất hữu để cho không gian mang tính hiện thực của nó”

Đây là hai câu nhận xét giống nhau của hai trí tuệ lớn của hai nền văn hóa cách nhau 25 thế kỷ. Câu đầu tiên được tin là của Đức Phật thốt ra, và câu thứ hai không ai khác hơn là Albert Einstein, nhà bác học quen thuộc. Nhưng nếu vì những phát biểu có vẻ trùng hợp như vậy mà ta quả quyết rằng “Đức Phật hiểu thuyết tương đối cũng như Einstein” thì quả là một ngộ nhận sơ hở và thiếu thận trọng.

Sau đây tôi xin được giới thiệu đề tài của mỗi chương trong cuốn sách:

_Khoa học chạm trán triết học (At the crossroads)

_Hiện hữu hay Hư vô (To be or not to be)

_Thượng Đế ở đâu? (In search of the great watch maker)

_Nhìn cây thấy rừng (The universe in a grain of sand)

_Ảo ảnh của hiện thực (Mirages of reality)

_Sự bất thường hằng của hiện hữu (Like a abolt from the blue)

_ Bản chất của hiện thực (Each is his own reality)

_Đi tìm thời gian (Questions of time)

_Hỗn mang và Hài hòa (Chaos and harmony)

_Biên cương ảo ảnh (The virtual frontier)

_Người máy suy tư (Robots that think they can think)

_Quy luật thiên nhiên (The grammar of the universe)

_ Lý trí và suy tư (Reason and contemplation)

_Quan niệm về cái đẹp (Beauty is in the eye of the beholder)

_Từ thiền tịnh đến hành động (From meditation to action)

_Kết luận của nhà sư (The monk’s conclusion)

_Kết luận của nhà khoa học (The scientist’s conclusion)

Những bàn cãi giữa hai tác giả trong cuốn sách có mục đích tìm hiểu những mối tương quan giữa khoa học và Phật học trong việc giải thích thực tại, và theo tôi, nếu có những tương quan đáng đề cập nhất, đó là Phật giáo và thuyết lượng tử đều phủ nhận một “thực tại khách quan-objective reality”. Ngoài ra, tâm thức và tính liên kết của hiện tượng (interdependence of phenomena) là một tương quan khác.

Matthiew Ricard đưa ra một số giải thích theo tôi tinh vi và sâu sắc. Những vấn đề ông đề cập hầu hết là những nghi vấn triết lý quen thuộc. Người đọc có thể hiểu rõ hơn về những điểm triết lý chính của Phật giáo trong việc giải thích tâm thức, ngoài ra, ông cũng trình bầy cách tu tập, cách hành đạo trong Phật giáo để phát huy Phật tính của mỗi cá nhân, những phương pháp thiền quán giúp người tu hành có một cuộc sống an bình và yên ổn trong tâm hồn. Phật giáo quan niệm hư vô/nihilism, sự trống không/nothingness, và chân như/emptiness không giống nhau. Cuốn sách cũng đề cập đến những biện chứng sắc bén về tính không của triết gia trung đạo Nagarjuna (Long Thọ Bồ Tát).

Chương 13 bàn về hai trình độ biết (knowledge) của khoa học và khả năng minh triết (higher awareness) của Phật giáo và là một chương quan trọng.

Tuy nhiên, đề tài chính của cuốn sách vẫn là những khám phá của thuyết lượng tử về bản chất sự vật và ý nghĩa triết lý. Khoa học hiện đại tận dụng hiểu biết về thuyết lượng tử vào những ứng dụng kỹ thuật nhưng mặt siêu hình vẫn chưa được triết gia nghiên cứu đến nơi chốn.

Trang 76, Gs Thuận đã hỏi sư Matthiew một câu quen thuộc nhưng khó trả lời nếu suy tư bằng thứ luận lý thông thường,

“theo Phật giáo, thế giới này hiện hữu hay không hiện hữu nếu không được tâm thức quán sát?” Matthiew đã trả lời bằng một giải thích mang tính “Trung đạo-Middle way”. Ông cho thấy câu hỏi đó vô nghĩa nếu trả lời bằng một xác quyết dựa trên hư vô luận, khái niệm luận hay duy vật luận.

Chương 5 bàn cãi về tính khách quan của hiện thực và những tranh cãi chung quanh lý luận dựa trên duy vật bản thể luận giữa những vật lý gia lừng danh thế kỷ trước như Bohr, Einstein, Heisenberg về những vật cực nhỏ như hạt điện tử hay nguyên tử, và Matthiew đưa ra một nhận xét của đức Phật về tính duyên khởi của sự vật qua lời của vật lý gia Laurent Nottale.

Trong phần kết luận, Gs Thuận cũng đã phản đối những suy nghĩ “chống tôn giáo” của Steven Weinberg. Xin xem cuốn “Ngẩng Mặt-Facing Up”, một cuốn sách mới của lý thuyết gia vật lý nổi tiếng này với những phát biểu như,

“Tôn giáo là một động lực thúc đẩy con người vốn tốt lành làm chuyện xấu xa-for good people to do evil - that takes religion...”

Gs Thuận cho rằng Weinberg đã sai lầm. Nhưng theo tôi chính Gs Thuận đã lầm. Chỉ nội một vụ September 11 cũng đã đủ cho thấy những tôn giáo quá khích như Hồi giáo cực đoan sẵn sàng nhúng tay vào những vụ thảm sát ghê gớm nhất mà động lực chính là: tôn giáo!

Theo tôi, Gs Thuận và Weinberg đều có lý do riêng. Weinberg quan niệm tôn giáo như một thứ vũ khí xâm lăng và thống trị của người da trắng như KiTô giáo thời trung cổ, trong khi đó, Gs Thuận nhìn tôn giáo như một phương pháp khai mở tâm linh như Phật giáo tại Á đông.

Theo tôi, Gs Thuận đã ngộ nhận khi ông phàn nàn khoa học bằng cách nêu ra những thí dụ tác hại của khoa học như bom nguyên tử ở Hiroshima và nạn diệt chủng Holocaust . Chúng ta không thể so sánh sự khảo sát khoa học thuần túy và sự ứng dụng sai lầm những kiến thức khoa học vào việc gây tội ác của những tay lãnh đạo chính trị điên khùng như Adof Hitler.

Weinberg cũng đã nặng phê phán một cách thiếu cân nhắc khi ông cho rằng tôn giáo là động lực chính đưa con người đến chỗ làm bậy. Con người với trí khôn lắt léo có thể nhân danh tôn giáo hay bất cứ một chiêu bài nào đó để làm việc thiện hay việc ác. Ông quên rằng những đạo quân viễn chinh dẫm nát Châu Âu Châu Á của đế quốc du mục Mông Cổ thời xưa đâu cần đến một thứ tôn giáo nào làm hậu thuẫn cho vó ngựa xâm lăng.

Gs Thuận kết thúc cuốn sách qua một câu nhận định của Albert Einstein về Phật giáo, “Tôn giáo trong thời đại sắp đến sẽ là một vũ trụ đạo.Tôn giáo này sẽ vượt qua những ý niệm Thượng Đế hiểu theo lề lối tín điều và thần học. Tôn giáo đó sẽ đặt nền tảng trên những cảm quan siêu hình xuất phát tự kinh nghiệm mỗi cá nhân về cả hai mặt tinh thần cũng như vật chất, và hai mặt này vốn vẫn là một nguyên thể đầy ý nghĩa. Phật giáo trả lời được vấn đề này...nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được những đòi hỏi của nền khoa học hiện đại, đó là Phật giáo”

Câu kết luận của gs Thuận mang tính chất dung hòa, “Khoa học có thể tự nó phát triển mà không cần đến khía cạnh tâm linh. Hoạt động tâm linh cũng có thể tự phát triển mà không cần đến những khám phá khoa học. Nhưng con người nếu muốn đạt đến chỗ toàn thiện, cần có cả hai yếu tố tâm linh và khoa học.”

Matthiew chấm dứt cuốn sách bằng một nhận định về quan niệm thân tâm là một của Phật giáo (mind-body) và ông quan niệm rằng khi người tu tập đạt đến trạng thái chân như, con người sẽ tự phát khởi được một mối từ tâm và tình thương vô hạn đối với chúng sinh (boundless love and compassion)

Về nhận định “chống tôn giáo” của vật lý gia Weinberg, Matthiew trả lời, “Chỉ khi nào phần tâm linh được khai mở, thì những kẻ đồ tể mới buông dao trở thành Phật-Only spirituality can make evil beings do good”

Tính phi thời-không-nonlocality, là một tính chất căn bản của vật chất ở trạng thái hàm sóng-wave function. Trong trạng thái này, một yếu tính của vi hạt như vòng quay (spin) không bị thuyết tương đối chi phối. Chúng nối liền với nhau xuyên qua không-thời gian. Đây là một khám phánền tảng thoát thai từ một thí nghiệm của Einstein được biết đến là EPR. Hình như Phật giáo gọi tính chất này là tính đồng nhất thể-interconnectedness.






Popular posts from this blog

“Hai Ngàn Năm Một Thuở, chứng từ của một số người công giáo ”

Điểm sách Hoa Sen và Lượng Tử (Phần hai-tiếp theo kỳ trước)