VỀ CÕI VÔ HÌNH ( Nguyên tác ZEN PHYSICS )
Tính chất phá đối xứng của tâm thức
(Tiếp Theo Kỳ Trước)
Lời người post: đây là phần 3 của loạt bài dịch đã được đăng gần 15 năm trước, chúng tôi hiện đang cố gắng tìm lại phần 1, và 2. Xin cáo lỗi cũng bạn đọc.
Khoa học giải thích sự việc lẫn sự vật một cách máy móc như những bài giải toán học thuần túy lôgic. Hỏi bộ óc là gì, khoa học trả lời khô khan rằng đó là một bộ máy điện tử hữu cơ. Hỏi tình yêu là gì, khoa học điềm nhiên phán rằng đó chỉ là một phản ứng của thần kinh hệ.
Hỏi sự giận dữ thù ghét là gì, khoa học lạnh lùng tuyên bố đó là những phản ứng hóa học của tuyến amygdala-hypothalamus khi tuyến này bị kích thích. Hỏi tâm thức là gì khoa học bình thản trả lời: đó là một hiện tượng có tính chất tổng thể thoát thai từ sự sống xuất hiện gần đây khoảng 300 triệu năm về trước (holistic and emergent phenomenon.)
Tôi không phủ nhận những điều đó vì trên phương diện sinh hóa chúng ta có thể được định nghĩa là những bộ máy tính tinh xảo và phức tạp. Nhưng tôi không chỉ muốn chấp nhận một cách buông xuôi như thế. Chúng ta là những sinh vật, đó là một chuyện dĩ nhiên, nhưng chúng ta còn có khả năng "sự vật hóa-objectify" những gì chúng ta đối diện. Đây là một yếu tố nền tảng sẽ được phân tích.
Thiên nhiên có hai trạng thái, âm/dương, trái/phải, trong/ngoài, tĩnh/động, ẩn/hiện, tinh thần/vật chất. Người đối diện khi nhìn chúng ta họ sẽ thấy một hình người, một cơ thể có một cái đầu và có lẽ có một bộ óc...biết suy nghĩ trong cái đầu ấy. Cặp mắt chúng ta khi nhìn ngang nhìn dọc có thể ví như "cửa sổ của tâm hồn" vì ánh mắt lẫn nét mặt thường nói lên nội tâm thầm kín của mỗi người. Nhưng thật ra, bộ mặt bên ngoài đó chỉ là một sự giả dối, đóng kịch. Chữ personality, một chữ để chỉ nhân cách của một người, có nguồn gốc từ chữ persona, theo La tinh có nghĩa là chiếc mặt nạ dùng để che mặt diễn viên trong những tấn tuồng cổ. Ý tôi muốn nói chúng ta hành động và suy nghĩ tùy theo vai trò địa vị và hoàn cảnh của chúng ta trong xã hội, ít khi nào hành động của chúng ta phản ảnh sự thật những gì chúng ta LÀ.
Người khác "thấy và biết" chúng qua một cách gián tiếp, qua những gì chúng ta để lộ trên nét mặt ánh mắt ngôn ngữ và cử chỉ, trong khi đó chúng ta tự biết chúng ta một cách thâm sâu và trực tiếp. Thế giới bên ngoài là một thế giới của một gánh xiếc trong đó mọi người là những diễn viên hư hư thực thực, nhưng trong thế giới nội tâm sâu xa của mỗi người, chúng ta biết và có những tự cảm thầm kín chỉ có chúng ta là có thể tự hiểu và tự ý thức được.
Tâm thức có thể được xem là một yếu tố có tính chất "phá đối xứng" giữa ngoại quan và nội quan, giữa khách thể và chủ thể.
(Nguyên văn tiếng Anh của tác giả: Consciousness, we might say, is the symmetry-breaking factor between the objective and the subjective)
Tôi cần phân tích và giải thích ý nghĩa của "tâm thức" và "phá đối xứng" bằng một vài giải thích:
Giả sử trong một căn phòng tối có 10 người và một bộ máy điện tử rà óc tối tân có khả năng phân tích những vùng hoạt động của não bộ. Trong căn phòng tối đó đột nhiên có một bóng đèn đỏ bật lên tràn ngập ánh sáng màu đỏ. Bộ máy điện tử đó ghi nhận, phân tích những làn sóng điện của não bộ của 10 quan sát viên và tường thuật bằng ký hiệu điện tử những vùng nào đang hoạt động. Chúng ta, nếu đọc những kết quả từ máy in ra, có thể tạm kết luận rằng,
"Bộ óc 10 người đó đang phản ứng với một hiện tượng (thị giác) vì những ký hiệu trên máy điện tử cho ra kết quả giống nhau; những làn sóng đó tượng trưng cho một kinh nghiệm xẩy ra ở một vùng thị giác của bộ óc bắt nguồn từ một hiện tượng nào đó"
Điều cần nhấn mạnh ở đây là: Sẽ không có bất cứ một giải thích nào, dù là giải thích bằng ký hiệu toán học, bằng biểu đồ, bằng ngôn ngữ, để có thể truyền đạt cái kinh nghiệm "mầu đỏ" ấy nó như thế nào trừ phi chúng ta đã thấy và biết thế nào là mầu đỏ và nói cho nhau nghe.
Mười người với mười cặp mắt và mười bộ óc cùng thấy chung một lúc hiện tượng bóng đèn mầu đỏ. Kinh nghiệm chung ở trong bộ óc mười quan sát viên là kinh nghiệm "bóng đèn mầu đỏ" và đây là ý nghĩa của tâm thức, một cảm nhận thị giác giống nhau của 10 cá nhân.
(Tâm thức là một đặc tính hằng hữu của vũ trụ, giống như quan niệm đại ngã-Atman- một quan niệm trọng yếu trong Áo nghĩa thư, và sự hiện hữu của tâm thức làm cho hiện tượng ngoại quan trở thành kinh nghiệm nội quan trong một hữu thể. Kinh nghiệm nội quan LÀ tâm thức.)
Ngôn ngữ là một dụng cụ tương đối hữu hiệu cho những ai muốn chia xẻ một kinh nghiệm, như mầu đỏ trong thí dụ trên. Nhưng đối với một người bị mù bẩm sinh hay một người mà vùng thị giác của não bộ đã hỏng thì ngôn ngữ vô ích vì không làm sao để có thể giải thích truyền đạt cho người mù cái hiện tượng mầu đỏ nó là gì, nó như thế nào. Một người chưa bao giờ thấy mầu đỏ sẽ không hiểu gì nếu người đó chỉ được nhìn những ký hiệu tượng trưng cho mầu đỏ từ máy điện tử in ra trên giấy, dù người đó có là một vật lý gia. Kinh nghiệm cá nhân là cái không thể giải thích, truyền đạt, dù có dùng thuật "truyền âm nhập mật" như trong truyện chưởng.
Tâm thức là yếu tố môi giới giữa vũ trụ bên ngoài và thế giới bên trong. Nó là ý nghĩa-meaning. Muốn có ý nghĩa, một sự việc hay một sự vật phải được nhận thức và quan sát, không những bằng mắt và bằng trí óc, mà còn đòi hỏi sự hiện hữu tiềm ẩn của "cái tôi". Một người máy điện tử trang bị với một bộ mắt giả và một bộ óc điện tử nhưng nếu nó không có tâm thức, không có khả năng tự cảm của cái tôi thì nó sẽ không bao giờ có bất cứ một nhận thức và ý nghĩa nào về những điều nó đang thấy. Một máy tính có thể chơi cờ tướng rất giỏi nhưng nó không thể nào "biết" hay có cảm giác khoái trá thỏa mãn của "cái tôi" khi thắng cờ. Vì cái tôi/tâm thức không hiện hữu trong máy tính cho nên thắng bại ván cờ không có bất cứ ý nghĩa gì với nó. Một hài nhi đỏ hỏn mới sinh ra đời cũng có thể ví như một bộ máy tính hữu cơ vì nó chỉ có thể hít thở, cử động, tiểu tiện, đại tiện, khóc một cách máy móc phản xạ, và tuy có thể biết đau đớn nếu bị cấu véo do phản ứng của thần kinh hệ, nó hoàn toàn không có một ý niệm gì về thế giới bên ngoài vì bản ngã của nó chỉ mới chớm hiện hữu mặc dầu bộ óc của nó đã có đầy đủ tế bào não.
(Phá đối xứng-symmetry breaking, là một quan niệm mới của vật lý. Cơ thể con người có tính đối xứng theo chiều dọc vì những cơ phận trên người những thứ nào có cặp như mắt, tai, phổi, thận, tay chân đều có sự đối xứng. Mất đi một trong hai thì tính đối xứng coi như bị phá hủy. Sự phá đối xứng của vũ trụ nguyên thủy được xem là một giải thích cho sự hiện hữu của vật chất/phản vật chất. Đây là một quan niệm có nhiều ứng dụng trong vật lý, một ví dụ nổi tiếng là tính chất phá đối xứng của 4 đại lực trong vũ trụ: lực mạnh, lực yếu, lực điện từ và trọng lực. Một thí dụ khác là khám phá quan trọng của hai vật lý gia Trung Hoa Chang N. Yen và Tsung D. Lee trong việc tìm ra tính phá đối xứng của tiến trình vật lý-parity symmetry. Một ví dụ: hãy tưởng tượng vũ trụ là một đại dương trong đó chúng ta là những giọt nước. Chỉ khi nào giọt nước bị tách rời ra khỏi đại dương nó mới có tính phản chiếu ánh sáng và mầu sắc của đại dương. Sự tách rời đó là một hình thức của sự phá đối xứng. Những lý thuyết gia vật lý nỗ lực đi tìm căn nguyên của vũ trụ và một chìa khóa quan trọng giúp họ tìm ra bí mật là sự khám phá ra những tính chất đối xứng tiềm ẩn-hidden symmetries.)
Anh lúc nào cũng là anh và tôi lúc nào cũng là tôi. Chúng ta tự biết như thế. Bản ngã của mỗi chúng ta là một cái gì đó hết sức cá nhân. Mỗi người trong chúng ta tự động vẽ cho chúng ta một vòng tròn vô hình giới hạn trong đời sống để đối phó với cuộc đời.
(Đức Phật ngày xưa đã chỉ cho chúng ta một bài học về vô ngã, một trạng thái của bậc giác ngộ xóa bỏ được cái biên giới vô hình giả tạo của kẻ hữu hình. Những bài thơ siêu tuyệt của thi sĩ Walt Whitman nói lên một phần nào ý niệm của trình độ thực chứng này.)
Cha đẻ môn phân tâm học Sigmund Freud đã tuyên bố như sau, "Cái tôi có biên giới của nó, nó bắt đầu từ làn da của cơ thể của tôi"
Từ câu nói của Freud, người ta đặt ra một câu hỏi khá thú vị: Chúng ta là cơ thể chúng ta hay chúng ta chỉ tạm thời trú ngụ trong thân thể chúng ta? Với duy vật luận, chúng ta là cơ thể chúng ta, nhưng với nhị nguyên luận của Descartes, chúng ta "tạm thời" ở trong cơ thể chúng ta. Cũng theo suy nghĩ này, tôi xin hỏi tiếp: một hàm răng giả, một trái tim giả chạy bằng pin, một cánh tay giả, những thứ ấy là chúng ta hay chỉ là những đồ vật thuộc quyền sở hữu của chúng ta?
Với những phát minh tối tân của y khoa hiện đại, một bệnh nhân trong tương lai có thể được thay thế những bộ phận hư hỏng trong người, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, như: tay chân bắp thịt da mắt tai mũi răng cho đến ruột gan tim phổi dạ dầy bàng quang thận mật, vân vân. Nhưng cái tôi của mỗi cá nhân vẫn là một cái tôi nguyên vẹn như cũ dù có thay đổi đến đâu đi nữa. Chúng ta chưa hề thấy một bệnh nhân nào phàn nàn than thân trách phận một cách khôi hài,
"Tôi không còn là tôi nữa vì đã bị giải phẫu thay thế quá nhiều bộ phận rồi!"
Nhưng chuyện gì sẽ xẩy ra nếu y khoa trong tương lai có khả năng thay thế một phần bộ óc hay nguyên cả bộ óc của bệnh nhân? Đây là một câu hỏi quan trọng vì chúng ta hiện thời chưa có thể hiểu rõ trong trường hợp tức cười "râu ông nọ cắm cằm bà kia" như thế này người hiến bộ óc và cơ thể nhận bộ óc sẽ phản ứng như thế nào? Một cá nhân mới? Một thứ Frankeinstein mới? Ai sẽ làm chủ? Người đối diện sẽ phản ứng thế nào với bệnh nhân được thay óc này nếu cơ thể là đàn ông nhưng bộ óc là của một phụ nữ đã chết? Có thể nào y khoa có khả năng tồn trữ và làm sống lại một bộ óc ngoài một xác chết?
Ngôn ngữ và ý nghĩa của ngôn ngữ trở thành quan trọng khi ta đặt những câu hỏi như: "Sau khi chết cơ thể của tôi có còn là tôi hay không?" hay "Khi nha sĩ nhổ răng chúng ta, có phải một phần chúng ta bị mất hay chúng ta vẫn hoàn toàn là chúng ta?"
Câu hỏi này nên hiểu theo ý nghĩa tinh thần: chúng ta không mấy quan tâm đến thân xác ô uế phàm tục của chúng ta sau khi chết nhưng chúng ta thỉnh thoảng cũng không khỏi có ít nhiều thắc mắc về cái tôi vô hình sau khi cơ thể chết đi nếu còn tồn tại sẽ phiêu bạt về một cảnh giới nào? Cảnh giới ấy có thể tìm hiểu để xem có thật hay không?
Triết gia William James đưa ra một nhận thức, "Khi chúng ta nói về cái tôi của chúng ta, chúng ta đang đề cập đến một cái gì đó không bao giờ thay đổi trong suốt cuộc đời cho đến lúc chết."
Từ những suy nghĩ trên, chúng ta đi đến một kết luận như sau: Chúng ta là một chuỗi dài tổng hợp những cảm giác kinh nghiệm cá nhân phát sinh từ bộ óc, những kinh nghiệm đó đưa đến một sự tự cảm "tôi là, mình là" trong tâm mỗi người.
Đến đây, tôi xin nhắc đến hai yếu tố hết sức quan trọng đối với chúng ta, hai yếu tố xác định cái "tôi là" của mỗi người:
Yếu tố thứ nhất là personal identity-lý lịch cá nhân. Mỗi người trong ta trong quá trình dài mấy chục năm làm người, từ một hài nhi đỏ hỏn cho đến lúc thành cụ già chống gậy, dù cơ thể và hình dáng có thay đổi nhưng trong mỗi người, cái tôi lúc nào cũng vẫn như thế không hề suy suyển. Và dù cho cuộc đời chúng ta có thay đổi thăng trầm trên cả hai mặt thể xác lẫn tinh thần, thì những cảm giác tự cảm về chính mình vẫn nguyên vẹn, cái tôi vẫn hoàn toàn nguyên vẹn, nếu ngày nào bộ óc của chúng ta vẫn còn hoạt động bình thường.
Yếu tố quan trọng thứ hai: continuity-sự nối tiếp liên tục không bị gián đoạn và không ngừng của cảm giác tôi là.
Lý lịch cá nhân bắt nguồn từ sự hiện hữu và ý thức của một hữu thể. Chỉ cần xem lại những cuốn album cũ trong gia đình chúng ta sẽ thấy rõ ràng là vóc dáng và tướng mạo chúng ta thay đổi rất nhiều qua từng thập niên. Nhưng ta cũng tự biết rằng trên phương diện ý thức-cái cảm giác tôi là-không hề thay đổi và không bao giờ gián đoạn, kể cả lúc ngủ say và chìm vào những cơn mơ. Chúng ta có thể thay đổi căn cước và lý lịch (để trốn lính, đào tẩu, làm gián điệp trá hình chẳng hạn) nhưng dù có thay căn cước tên họ ngày sinh tháng đẻ hàng chục lần thì cái cảm giác "tôi là" của một hữu thể đặc biệt nào đó vẫn như cũ không ngừng nghỉ hay bị gián đoạn.
Triết gia Jonathan Glover có một định nghĩa như sau,"Người, theo tôi có thể định nghĩa là một sinh vật có khả năng tự ý thức về chính mình"
Những triết gia khoa học thường suy ngẫm đến một số câu hỏi như sau: Một con voi, một con bướm, một con rắn, chúng có những tự cảm như thế nào? thế giới nội tâm cá nhân chúng ra sao? Nếu tôi là một con đại bàng hay một con rệp thì tôi sẽ thấy và biết thế giới bên ngoài như thế nào?
Câu hỏi này là một câu hỏi triết lý thú vị và thuyết tiến hóa đã cho chúng ta một số dữ kiện để tìm hiểu nghiên cứu. Trong quá trình tiến hóa từ ngàn xưa, chúng ta và những sinh vật khác đang sống trên quả địa cầu đã từng một thuở là những vi sinh vật bơi lội trong lòng biển, đã một thời chúng ta là những loài cá biển, rồi một thời chúng ta là những loài bò sát, loài khủng long, loài động vật máu nóng, loài có vú, loài hầu nhân, rồi sau cùng mới đến hậu duệ chót là loài người hiện đại. Từ ngày còn trong noãn sào của người mẹ/tinh trùng của người cha cho đến lúc trưởng thành, bạn và tôi đã vô tình tái dựng lại một quá trình tiến hóa dài hàng trăm triệu năm-recapitulation of the evolutionary process on earth.
Khởi đầu, một phần chúng ta thuộc người cha và một phần chúng ta thuộc người mẹ. Khởi điểm của mỗi người là một sinh vật đơn bào-single-celled organism, cũng giống như là một con amoeba-đơn bào trùng. Giai đoạn chúng ta còn là một phôi thai trong bụng mẹ cũng rất giống như phôi thai của nhiều động vật khác, được nuôi dưỡng trong một bể nước ối trong lòng mẹ-amniotic sea.
Tôi muốn hỏi đùa các bạn rằng các bạn còn nhớ cảm giác lúc đó ra sao không? Chắc chắn là không. Cảm tưởng "tôi đang cựa quậy ngo ngoe trong bụng mẹ" chưa có và chắc chắn không bao giờ có, vì lúc đó cái tôi chưa hình thành, chưa là một hiện hữu rõ rệt như chúng ta hiện tại.
Đến đây, tôi có thể kết luận rằng cái tôi trong mỗi người chúng ta là một phản ảnh phức tạp và mật thiết của xã hội chúng ta đang sống. Sự giao tiếp giữa chúng ta và người đồng loại trong cộng đồng là nguyên động lực thúc đẩy sự hình thành "cái tôi" trong chúng ta và là một nhu cầu cần thiết tối quan trọng cho sự sống còn và bình thường/cân bằng của tinh thần con người. Tôi đưa ra một thí dụ có thật xẩy ra để dẫn chứng:
Vào năm 1988, một phụ nữ người Pháp tên Veronique Le Guen đã tạo một kỷ lục là cô ta đã tự giam hãm mình dưới một cái hố sâu 250 feet dưới mặt đất trong vòng 111 ngày-tức là gần 4 tháng. Địa điểm là Valat-Nègre, miền nam nước Pháp. Cô hoàn toàn thiếu ánh sáng mặt trời, không có đồng hồ chỉ giờ giấc, và hoàn toàn không liên lạc với thế giới bên ngoài. Cô chỉ có vỏn vẹn một cuốn nhật ký làm bạn. Cô viết lại trong nhật ký cho biết cô hoàn toàn mất hết tinh thần sống, tâm thần hỗn loạn, không còn biết mục đích đời mình là gì nữa. Kinh nghiệm cá nhân dễ sợ này đã đưa đến hậu quả là cô phải tự kết liễu đời mình vào tháng 1 năm 1990, lúc đó mới 33 tuổi. Chồng cô nói rằng sau biến cố đó vợ ông cảm thấy tâm hồn cực kỳ trống rỗng không còn khả năng giao tiếp với thế giới bên ngoài nữa.
Hành vi nếp sống thường ngày của chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào những gì bộ óc chúng ta chứa đựng nẩy sinh từ những ký ức quen thuộc cũ. Người khác quen thuộc với khuôn mặt và hành động của chúng ta, và thái độ họ đối xử phản ảnh những gì họ nghĩ chúng ta là, từ đó, cách suy nghĩ và cư xử giữa họ và ta lập đi lập lại như thói quen một cách máy móc tự nhiên. Nếu một ngày nào đó-tôi ví dụ-khi vào sở chúng ta thay đổi cách ăn nói điệu bộ phản ứng thì chắc chắn những người bạn sẽ nhìn chúng ta một cách lạ lùng, không hiểu có chuyện gì xẩy ra. Nhiều thí nghiệm về vấn đề này đã được thử để tìm hiểu những phản ứng tâm lý cá nhân biến đổi như thế nào. Một ngày nào đó, bạn hãy thử ăn mặc bê bối như một gã vô gia cư vô nghề nghiệp, đầu tóc không chải gội tắm rửa, ăn nói thô lỗ, điệu bộ lè phè, thái độ mất tư cách, người khác sẽ đối xử với chúng ta một cách rất khác chúng ta thường ngày; vợ hay chồng ta sẽ nhìn ta bằng cặp mắt ngạc nhiên tự hỏi, và ngay chính ta cũng bị ảnh hưởng tiêu cực vì thái độ bên ngoài của ta. Nếu trái lại, thay vì bê bối, chúng ta ăn mặc lịch sự, nói năng nghiêm chỉnh, hành vi đứng đắn, chúng ta sẽ cảm thấy tự có giá trị và lòng tự trọng được nâng cao, và cái tôi được thêm phần tự tin và thỏa mãn.
Ký ức cá nhân là một yếu tố chính xác định mỗi người, đó là một điều tự nhiên và tất yếu. Anh và tôi và mọi người chúng ta chỉ có thể là những cá nhân riêng biệt nếu mỗi người có một ký ức riêng, có khả năng gợi nhớ hồi tưởng lại những ký ức đó và cảm thấy quen thuộc với những kỷ niệm cũ đã trải qua.
Mỗi nguyên tử và tế bào trong cơ thể chúng ta đều sẽ phải thay đổi, cái cũ chết và bị đào thải, cái mới thay thế. Trên phương diện vật chất, sự sống là một sự tái tạo luân chuyển đổi mới không ngừng nghỉ, từ con vi trùng đến con người cho đến một siêu sao khổng lồ, tất cả đều là những sự vận hành và biến dịch của thiên nhiên.
Điều kỳ diệu ở đây khiến chúng ta không khỏi thắc mắc là tại sao cái tôi và ký ức cá nhân là cái không hề suy suyển. Có những người trải qua tình trạng coma-hôn mê kéo dài hàng tháng/hàng năm nhưng đến lúc tỉnh lại cái tôi của họ cũng vẫn như cũ không thay đổi hay gián đoạn (đối với họ)
Văn hào H.G. Wells hư cấu về sự trường tồn của "cái tôi" của một người đàn ông bị hôn mê trong vòng 200 năm trong cuốn sách The Sleeper Awakes như sau:
Cái tôi quả thật là một sự phức tạp khôn lường! Làm sao để có thể hiểu được những nhân quả và những yếu tố khác biệt đưa đến sự hội nhập và tạo thành của cái tôi mỗi ngày khi chúng ta thức dậy...những gì khởi dậy từ vô thức đưa đến tiềm thức rồi từ tiềm thức trở thành ý thức rồi ý thức trở thành cái tôi quen thuộc trong mỗi chúng ta khi chúng ta tung chăn gối ngồi dậy...
Khi nhà văn hư cấu về câu chuyện này, ông không thể biết được và không ngờ rằng trong tương lai có một biến cố y khoa xẩy ra giống y hệt như câu chuyện giả tưởng của ông. Biến cố ấy như sau: Trong khoảng thời gian thế chiến thứ nhất, từ năm 1916 đến 1927, một thứ bệnh dịch xẩy ra trên thế giới. Bệnh dịch này có tên encephalitis lethargica-bệnh mê ngủ. Hơn năm triệu người bị nhiễm bệnh và hơn một triệu rưỡi người mất mạng một cách nhanh chóng. Những người còn sống sót bị vướng vào một biến chứng thần kinh lạ lùng, đó là lúc nào bệnh nhân cũng như ở trong một trạng thái xuất hồn mất vía như người đang lên đồng. Bệnh nhân không hoàn toàn bất tỉnh nhưng lúc nào cũng mơ màng và thời gian cũng như cảnh vật chung quanh đối với họ như ngừng đọng lại.
Triệu chứng quái lạ này kéo dài khoảng bốn mươi năm. Sau đó, những bệnh nhân này được chữa trị bằng một thứ thuốc có tên L-dopamine. Những bệnh nhân bị nặng nhất lúc tỉnh trí lại họ chỉ nhớ được mang máng những sự việc xẩy ra trước thời đệ nhất thế chiến, là khoảng thời gian họ mới mắc bệnh, còn những gì xẩy ra trong vòng bốn thập niên sau đó họ không có cảm giác hay kinh nghiệm gì. Tuy vậy, điều mà họ hiểu rất rõ là cái tôi và những tự cảm của họ vẫn y như cũ không suy suyển. Họ nhớ họ là ai, thế nào, và những chuyện cũ quen thuộc của tâm hồn mỗi người. Tuy nhiên, sau 40 năm thần trí mờ mịt, họ không thể nào thích hợp với những biến đổi nhanh chóng của xã hội chung quanh vì cái gì cũng quá mới lạ và khác biệt đối với họ. Trong số những người này có một nữ bệnh nhân bị rất nặng, tuy rằng lúc bà tỉnh trí lại bà biết thời điểm đang sống là năm 1969, và tuy bà biết qua về những diễn biến lịch sử đã xẩy ra trong đời bà như thế chiến thứ hai, Nhật bản tấn công Trân Châu Cảng, tổng thống Kennedy bị ám sát, nhưng đầu óc bà lúc nào cũng vẫn như là tâm trí và ký ức của một thiếu nữ trẻ vào thời điểm 1926 là năm bà mới mắc bệnh, một khoảng cách hơn 40 năm dài.
(Những độc giả nào đọc đến đây thử thí nghiệm như sau: hiện tại là năm 2004, nhưng hãy tưởng tượng biến cố tết Mậu thân hay cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm đang xẩy ra ngay ngày hôm nay, sau đó tối nay bạn đi ngủ, sáng mai thức dậy nhìn tờ lịch thấy mình đang ở thời điểm năm 2004 và chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt hơn 28 năm! một giấc ngủ dài xuyên thời gian khoảng 40 năm. Hay các bạn thử tưởng tượng tối nay đi ngủ ngày mai thức dậy nhìn cuốn lịch trên tường thấy năm 2044. Đây là cảm giác hoang mang lạ lùng của những người bệnh trong câu chuyện trên.)
Bác sĩ thần kinh học nổi tiếng Oliver Sacks, trong cuốn sách tựa đề Awakenings, đã dùng những trường hợp y khoa lạ lùng kể trên
để dẫn chứng và tranh luận về vấn đề hiện hữu, không những của cái tôi mà thôi, mà là hiện hữu nói chung. Ông suy nghĩ rằng cái tôi và thực tại trong chúng ta là một. Chúng ta chỉ có thể hiện hữu và sống động nếu chúng ta có những tự cảm về mình, về cái tôi. Trong trường hợp những bệnh nhân mê ngủ nói trên, họ bị liệt bại và coi như hoàn toàn mất cử động trong vòng 40 năm trời; họ như những xác chết biết thở và "cái tôi" hoàn toàn vắng mặt trong họ, nhưng sau khi được chữa trị, họ trở lại bình thường và sinh hoạt một cách sống động vui vẻ ngay lập tức. Điều này khiến ông đi đến kết luận rằng nằm ngoài cơ thể xác thịt của con người là một yếu tố sống, ông gọi nó là "dòng hiện hữu", nó là tất cả những ý thức chủ quan của một hữu thể, là những tự cảm quen thuộc về chính mình mỗi khi chúng ta tung chăn ngồi dậy mỗi buổi sáng. Thiếu "nó", chúng ta sẽ không "là". Trong thời gian 40 năm dài, những bệnh nhân nói trên tạm thời bị mất cái tôi, và hậu quả là dòng ý thức của họ bị gián đoạn, và tuy họ vẫn sống, vẫn ăn, ngủ, thở, bài tiết, thế giới bên ngoài đối với họ hoàn toàn vô ý nghĩa.
Bộ óc chúng ta là một bộ phận phi thường, kỳ diệu, nhưng nó không phải là một thứ toàn hảo và bất bại, và cùng lắm nó chỉ nhớ được lõm bõm một số ký ức nào đó đáng nhớ mà thôi. Có nhiều trường hợp chúng ta khi chạm trán với một người lạ mặt nào đó, tuy người đó nhận ra ta là bạn cũ và tự giới thiệu nhưng chúng ta rất có thể sẽ bỡ ngỡ không nhớ ra mặc dầu tha hồ nặn óc lục soát lại ký ức cũ. Khi so sánh với tất cả mọi sự việc từng xẩy ra, có thể nói rằng bộ óc nhớ được rất ít những gì đã xẩy đến với chúng ta hàng ngày và đó là một điều may mắn vì nếu không thì chúng ta sẽ trở thành điên loạn nếu chúng ta phải nhớ và có thể nhớ tất cả những gì đã xẩy ra.
Bác sĩ thần kinh học lừng danh A. Rucia đã kể lại một trường hợp y khoa có thật về một người bệnh có khả năng nhớ quá nhiều. Một bệnh nhân người Nga tên Sherashevky mắc chứng nhớ nhiều này. Anh ta nhớ tất cả những kinh nghiệm đã từng trải qua, tất cả những ngang cùng ngõ hẻm, những ngóc ngách li ti của cuộc sống, những kinh nghiệm từng trải, từng chi tiết nhỏ nhặt tỉ mỉ nhất anh đều nhớ rõ mồn một. Từ mầu sắc đến mùi vị âm thanh cảm giác của sự vật và sự việc bên ngoài đều được trí óc anh thu nhận. Vì quá nhiều dữ kiện cho nên cuộc sống của anh trở nên một thứ địa ngục thần kinh như người bị tra tấn trí não. Anh không bao giờ có khả năng tập trung tư tưởng để mà làm bất cứ việc gì vì lúc nào tâm trí anh cũng bị bủa vây và chi phối bởi tất cả những chi tiết nhỏ nhặt vô giá trị. Trí óc anh là một mớ chỉ rối hỗn độn làm cho anh mất phương hướng và chủ định. Cuộc đời anh là một chuỗi ngày dài cực kỳ bất hạnh.
Tiếng Anh gọi chứng bệnh nhớ đủ thứ này là "photographic memory" và theo như hiểu biết của những khoa học gia làm việc tại phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor, thì chứng này có thể là một thứ bệnh di truyền. Họ thí nghiệm với một loài ruồi tên Drosophila có một thứ dên (gene) gọi là CREB. Thứ dên này hoạt động như một thứ chìa khóa trong việc kích thích những dên khác sản xuất một loại protein có liên quan đến việc phát triển trí nhớ lâu (long term memory) Những thí nghiệm với loài ruồi này cho ra một kết quả là chúng nhớ rất nhanh (khoảng 10 lần) nếu những dên này trong cơ thể chúng bị kích thích theo những gia tăng của nhiệt độ trong cơ thể ruồi. Rất có thể những người mắc chứng này có một loại dên hoạt động quá đà trong cơ thể họ làm cho họ có khả năng nhớ mạnh.
(Những trường hợp y khoa lạ lùng này đã được kiểm nhận, ví dụ có những người chỉ nhìn lướt qua một cuốn sách là có thể đọc lại từng chữ từ đầu đến cuối, có những người có khả năng đọc lại những chuỗi số loạn xạ vô nghĩa dài hàng ngàn con số như chuỗi số Pi, có những người có khả năng làm toán nhân trong đầu nhanh như máy tính điện tử. Những trường hợp đặc biệt này cho thấy trí tuệ con người là một cái gì đó hết sức lạ lùng và bí mật, cũng như vũ trụ bên ngoài.)
Trên phương diện sinh tồn, một bộ óc không thể nào tồn trữ tất cả những gì thu nhận từ ngũ quan, mà nó chỉ có thể nhớ những sự việc nào có ý nghĩa, có thể giúp nó bảo tồn và phát triển cái tôi, còn những gì không quan trọng trong việc sinh tồn bộ óc sẽ quên ngay. Khi bộ óc đang thời kỳ phát triển trong tuổi trẻ, bộ óc đó được gia đình và hoàn cảnh uốn nắn để có một số nhận định nào đó về cái thế giới chung quanh (Ví dụ một đứa bé mà cha mẹ làm y tá hay bác sĩ sẽ có thể có khuynh hướng nhìn cuộc đời là một thứ nhà thương, một đứa trẻ cha mẹ làm ca sĩ hay tài tử có khuynh hướng nhìn cuộc đời như một sân khấu, một đứa trẻ nuôi dưỡng theo một truyền thống tôn giáo sẽ có những quan niệm riêng về tôn giáo đó- một đứa bé theo Công giáo sẽ thấy mọi sự vật là do bàn tay Chúa tạo ra, một đứa trẻ theo Phật giáo sẽ thấy mọi sự là kết quả của những duyên và nghiệp của nhiều tác động tương quan.)
Một khi đứa trẻ đã theo đó mà trưởng thành, thì nó sẽ nhìn cuộc đời và thế giới bên ngoài theo một thứ lăng kính cố định nào đó, và bộ óc của nó sẽ tùy theo từng trường hợp từng hoàn cảnh để mà quên hay nhớ những gì xẩy ra. Hầu hết chúng ta sẽ từ từ quên dần những ký ức cũ thông thường, nhưng những biến cố mạnh tác động đến cơ thể và tinh thần chúng ta sẽ nhớ rất lâu rất rõ, nhớ đến khi chết mới hết nhớ, nhất là những biến cố khủng hoảng làm thay đổi cuộc sống và địa vị chúng ta (Ví dụ: đang làm một ông tướng mình mẩy đầy hoa lá cành, miệng hét ra lửa, bại trận và trở thành một anh phó thường dân không còn một chút quyền hành nào. Đây là lý do mà nhiều người chỉ có thể sống trong những ảo tưởng của thời vàng son đã qua và bám víu một cách thê thảm vào cái tôi của quá khứ, không thể mở mắt chấp nhận những thực tế của hiện tại.)
Một bác sĩ thần kinh người Canada tên Wilder Penfield đã có những thí nghiệm cụ thể và chi tiết về hoạt động của bộ óc. Trong khi giải phẫu óc những bệnh nhân của ông để chữa chứng bệnh co quắp như kinh phong (những người này không bị đánh thuốc mê toàn thân, chỉ bị thuốc tê) ông đã tách xương sọ của họ để có thể thí nghiệm với bộ óc một cách trực tiếp. Ông đã dùng những dòng điện nhẹ để kích thích từng vùng riêng biệt. Thí nghiệm này cho phép ông thành lập một tấm bản đồ óc rất chi tiết về những vùng ảnh hưởng khác nhau. Có những vị trí óc khi dòng điện chạy vào sẽ làm bệnh nhân nói lảm nhảm vô nghĩa, nhăn mặt nháy mắt, ngón tay giựt lia lịa, cười một cách rũ rượi, có những vùng khi chạm vào sẽ làm cho bệnh nhân nhớ lại những ký ức cũ họ đã từng trải qua. Tùy từng khu vực bị kích thích, những gì bệnh nhân nhớ lại có thể là một bài hát quen thuộc, một cảnh trời tuyết rơi, một mùi hương cũ, một khuôn mặt cũ, một biến cố cũ. Điều khác biệt là những ký ức đó sống lại rất mạnh tưởng chừng như sự thật đang xẩy ra đối với bệnh nhân đang bị thí nghiệm thay vì chỉ là một sự tưởng nhớ xuông như khả năng hồi tưởng của chúng ta.
Cũng giống như tất cả các cơ quan khác trong người, bộ óc là một bộ phận gìn giữ những ký ức, kinh nghiệm. Mỗi buổi sáng thức dậy vươn vai nhìn mình trong gương còn nhận ra ta là ai thì tức là bộ óc còn hoạt động tốt. Vì điều đó cho thấy cái tôi quen thuộc vẫn còn trong mình. Trên thực tế, mỗi một ngày là một sự đổi mới hoàn toàn, không có kinh nghiệm nào hoàn toàn giống nhau. Tiến trình của tiến hóa khiến bộ óc phát triển theo chiều hướng cũ để mà tự tồn tại. Nhưng tồn tại có nghĩa là gì? Tôi xin hỏi? Tôi nói rằng tồn tại có nghĩa là không thay đổi và không muốn thay đổi. Và đó là nhiệm vụ chính của bộ óc. Dù hoàn cảnh và môi trường chúng ta có thay đổi rất nhiều, bộ óc chúng ta vẫn cho ta cái cảm giác ta là ai, và nếu như vậy thì bộ óc đã làm tròn công việc của nó. (Nguyên tác: to survive, biologically, means to stay the same...unified, consistent, continuous.)
(Một trong những yếu tố tinh thần quan trọng của con người là niềm tin tôn giáo. Nhưng niềm tin tôn giáo là gì? Đó chỉ là một mớ quan niệm siêu hình cũ và ý kiến cá nhân được nhồi nhét vào đầu óc lúc ta còn trẻ cắp sách đến trường. Vì được huấn luyện từ lúc bé, ta tin rằng đó là sự thật khỏi cần thắc mắc. Điều quan trọng ta không biết đó là những ý kiến ấy nó từ từ ảnh hưởng đến sự hình thành cái tôi trong óc ta. Một tín đồ có thể tử đạo nhưng không thể thay đổi tín ngưỡng là tại vì anh ta không biết rằng anh đã vô tình tự đồng hóa anh ta với những tín điều ấy, và như vậy chuyện cải đạo hay bỏ đạo cũng giống như hủy diệt cái tôi của chính anh. Làm sao mà anh dám có thể tự giết cái tôi? Chỉ có những người có nghị lực và tư tưởng mới làm nổi những việc như thay đổi quan niệm về tín ngưỡng hay chính trị, nếu họ đã không bị nhồi sọ quá đáng lúc còn trẻ.
Một điều khôi hài: những người sinh ra trời bắt xấu sẵn sàng làm tất cả những gì y khoa cho phép để được trở thành đẹp, mục đích không phải để thay đổi cái tôi, mà chỉ vì họ muốn thỏa mãn cái tôi nhiều mặc cảm. Niềm tin tôn giáo cũng tương tự như thế, nó có ảnh hưởng mạnh vì nó là một thứ thuốc uống vào để thỏa mãn và trợ lực cho cái tôi, điều này thực ra tự nó không có gì hại. Đạo Phật, trái lại, bản chất của nó phi tín điều, nó không hề chủ trương diệt ngã hay trợ lực cho bản ngã, nó chỉ muốn giúp chúng ta tìm hiểu và hóa giải những biên giới giả tạo của ngã do tham sân si tạo ra và giúp con người thực hành một cuộc sống cân bằng điều độ. Những người xuất gia đầu Phật hành động cạo đầu xuống tóc của họ có ý nghĩa tinh thần: từ bỏ cái tôi, những gì liên quan đến hình danh sắc tướng.)
(Còn tiếp nhiều kỳ)