Điểm sách Hoa Sen và Lượng Tử (Phần hai-tiếp theo kỳ trước)
Kỳ trước, tôi đã có dịp trình bày với độc giả một số ý kiến của tôi về bản dịch của dịch giả Linh Thụy và quan niệm của ông Trịnh Xuân Thuận về một “supreme being-hữu thể tối cao” Trong thời gian khoảng hai tháng vừa qua tôi có dịp đọc kỹ hơn cuốn Hoa Sen Lượng Tử (HSLT) và tôi xin được phép dùng phần còn lại để trình bày một số ý kiến với độc giả.
Cách đây khoảng 20 năm, một vật lý gia trẻ tuổi tên Fritjof Capra viết cuốn The Tao of Physics, được xem là cuốn sách tiêu biểu khởi đầu cho một phong trào văn hóa mới với nhiều sách nghiên cứu về những tương quan giữa môn vật lý học và triết lý Đông phương. Phong trào này được biết là “New Age” Hoa Sen và Lượng Tử theo tôi biết là cuốn sách mới nhất thuộc khuynh hướng này. Đây là một tác phẩm viết dưới dạng đối thoại của hai tác giả Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận. Sách dầy 312 trang, nhà xuất bản Crown, NewYork, năm 2001. Cuốn sách đã được đức Đạt Lai Lạt Ma phê bình như sau,
“Cuốn sách là một thành quả mỹ mãn của một cuộc đối thoại sâu sắc giữa khoa học Tây phương và Triết lý Phật giáo. Tác phẩm đáng kể này sẽ là một đóng góp lớn giúp chúng ta đi tìm ý nghĩa thật sự của thiên nhiên cũng như giúp ta trong cách xử thế và ăn ở trên đời.”
Matthieu Ricard, tăng sĩ Phật giáo người Pháp được biết tiếng qua tác phẩm “Tăng Sĩ và Triết Gia”. Xuất thân một khoa học gia, ông bỏ nghề, thí phát đi tu. Hiện ông sống và tu tập tại Nepal và là dịch giả Pháp ngữ của đức Lạt Ma.
Trịnh Xuân Thuận, thiên văn gia và vật lý không gian, được biết tiếng qua những tác phẩm khoa học giá trị như “Giai Điệu Bí Mật”, “Hỗn Mang và Hài Hòa”. Ông xuất thân từ đại học CalTech tại Pasadena, California. Theo tôi biết, ông hiện là chuyên gia nghiên cứu sự tạo thành của những nhóm thiên hà-galaxy formation. Ở Mỹ, ông Thuận là một thiên văn gia không mấy nổi tiếng. Tại Pháp, ông được biết đến nhiều hơn vì những sách ông viết. Tôi nghe nói độc giả Pháp xem ông như Carl Sagan, một người truyền bá kiến thức khoa học phổ thông cho đại chúng (science popularizer)
Hai người gặp nhau tại một hội đồng đại học năm 1997. Cơ duyên đến với họ khi họ đưa ra một số đề tài vật lý và triết học Phật giáo để cùng thảo luận. Tác phẩm này là tập hợp của những buổi nói chuyện ấy.
Tác phẩm gồm 15 chương. Mỗi chương thảo luận về một đề tài khác nhau. Với những độc giả không quen thuộc với những khám phá mới của khoa vật lý hiện đại cũng như những quan niệm trừu tượng của đạo học tôi sợ rằng cuốn sách không hấp dẫn vì nó chuyên chở nhiều vấn đề thuộc lãnh vực vật lý lượng tử và siêu hình học đông phương, những vấn đề “hình nhi thượng” không quen thuộc trong đời sống thường ngày.Trước khi vào chuyện, tôi cũng xin có chút ý kiến. Giới khoa học gia nói chung có khuynh hướng nghi ngờ, nếu không muốn nói là coi thường loại sách pha trộn khoa học lẫn tôn giáo. Tôi xin đưa ra một vài ví dụ:
-Leon Lederman, vật lý gia đoạt giải Nobel, đã châm biếm thứ tương quan khoa học/huyền học. Ông xem nó là việc làm thiếu tinh thần khoa học và diễu cợt rằng người ta cũng có thể tìm thấy những tương quan giữa môn vật lý, thiền học, và lối nấu ăn Tầu tỉnh Hồ Nam.
-Stephen Hawking, vật lý gia tật nguyền nổi tiếng thế giới, đã phê bình nặng nề việc so sánh những tương quan này là “trò rác rến-rubbish”.
-Trong cuốn Quantum Generations, sử gia khoa học Helge Kragh nói rằng những khía cạnh siêu hình của vật lý lượng tử không được chú trọng và khoa học gia không xem đó là những bí ẩn cần nghiên cứu.
-Một vật lý gia khác, David Lindley, phê bình rằng không có gì tương đồng giữa khoa học và triết lý đông phương và ông cho rằng sự tương quan ấy chỉ là những ngộ nhận của thứ ngôn ngữ trừu tượng mà ra. Triết lý Đông phương có những trừu tượng của nó, khoa học lượng tử cũng có những trừu tượng của nó, và người đọc nếu không vội vàng nhận xét kỹ thường cho là khoa học và đạo học “gặp nhau” chỉ vỉ những trùng hợp vô tình của ngôn ngữ.
-Gerard t’ Hoft, vật lý gia giải Nobel, cũng đã cảnh giác người đọc về lối so sánh khoa học trộn đạo học này.
Theo tôi biết, trong số những vật lý gia nổi tiếng thế kỷ trước, có một vài người ưa chuộng triết lý Phật giáo và Đông phương nói chung, nhưng điều này không có nghĩa là phải có những điểm tương đồng giữa đạo học và vật lý học. Một vài ví dụ:
-Niels Bohr, một vật lý gia, đã ưa chuộng nguyên lý Âm Dương của triết lý đông phương vì nguyên lý này phảng phất giống lối suy nghĩ của ông về quan niệm “complementarity-hổ tương” nhưng điều này không có nghĩa gì đặc biệt trong cách làm việc của ông trong việc thành lập thuyết lượng tử.
-Vật lý gia Murray-Gellman khi tạo ra quark theory, đã đùa nghịch dùng triết lý “Bát chánh đạo-Eightfold way” của Phật giáo vào trong mô hình quark. Sự nghịch ngợm này của ông có thể bị người đời vô tình hiểu lầm là mô hình quark và triết lý bát chánh đạo giống nhau. Thực ra điều này chỉ có tính cách đùa giỡn khôi hài, hoàn toàn không có những liên quan giữa thuyết bát chánh của Phật giáo và vật lý học.
-Heisenberg, Schrodinger là những tên tuổi lớn trong thế giới vật lý, họ có chung những cảm nghiệm tâm linh phảng phất mùi vị triết lý đông phương và họ cũng đã là những người tìm hiểu học thuyết đông phương. Nhưng theo tôi đây chỉ là những cảm quan cá nhân đi ra ngoài phạm vi khoa học, không liên quan gì đến cách thức họ sử dụng toán học để khám phá bản chất sự vật.
-David Bohm, một vật lý gia khá nổi tiếng và là một huyền nhiệm gia với thuyết “implicate order-trật tự ẩn tàng” cũng như những quan niệm khó hiểu như “quantum potential-tiềm năng nguyên lượng” “enfolding reality-thực tại biểu hiện” Ông viết khá nhiều sách có liên quan đến những quan niệm của triết học siêu hình Đông phương có một thời làm say mê một số đông “đệ tử” theo phong trào New Age nhưng việc làm của ông thường bị nhìn bằng cặp mắt nghi ngờ của giới khoa học chính thống.
Theo tôi, trên một phương diện, cuốn HSLT cũng phần nào tương tự như cuốn The Quark and The Jaguar của vật lý gia Murray-Gellman, xuất bản năm 1994. Ông ta viết cuốn sách đó vì muốn trình bày những điểm giống nhau giữa bản chất đơn giản-simplicity của vi hạt quark, và trạng thái phức tạp-complexity, của một sinh vật như con beo Jaguar. Cuốn sách không được thành công như những cuốn của Stephen Hawking.
Khuynh hướng dùng khoa học để “chứng minh” thần học là một khuynh hướng thường xẩy ra. Những khoa học gia theo KiTô giáo cũng đã dùng thuyết tiến hóa và thuyết BigBang để “chứng minh” rằng những chuyện cổ tích trong Kinh thánh phản ảnh sự thật và Thượng Đế là một đấng hằng hữu có thật. Họ cho rằng nếu chúng ta cảm thấy có vấn đề thì vấn đề nằm ở cách chúng ta đọc và hiểu kinh thánh chứ không phải kinh thánh sai. Ví dụ như trong thập niên 1950 giáo hoàng Pius XII của Vatican đã tuyên bố là thuyết BigBang là một chứng minh cho thấy câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng Thế Ký là đúng, phản ảnh sự thực xẩy ra. BigBang là khởi điểm của sự tạo dựng ra vũ trụ do bàn tay và ý muốn của Thượng Đế-đó là theo niềm tin chung của KiTô giáo
Tôi đã đọc một số tác phẩm của vài khoa học gia, giáo sư đại học thuộc KiTô giáo viết về những tương quan giữa khoa học và thánh kinh. Một vài người điển hình như Gerald Schroeder, John Polkinghorne, William Craig, Kenneth Miller, Phillip Johnson. Những người này trình độ học vấn cao cấp và đã viết nhiều sách để “chứng minh” cho sự hiện hữu của Thượng Đế bằng những khám phá khoa học, kể cả thuyết tiến hóa. Dĩ nhiên, những lý luận của họ rất tinh vi và khôn khéo. Muốn hiểu được và bẻ gẫy được những lý luận của họ đòi hỏi người đọc phải có một trình độ tương đối cao.
Trên một phương diện, cuốn Hoa Sen Lượng Tử đã đi vào vết bánh xe cũ, ra ngoài truyền thống khoa học chân chính. Và đây là một việc làm tương đối nguy hiểm có thể gây ảnh hưởng cho nghề nghiệp của người viết. Tuy nhiên theo tôi, ông Thuận thừa khôn ngoan để biết cuốn sách sẽ có ảnh hưởng gì đến tiếng tăm của ông. Là một người thông minh, uyên bác, am tường cặn kẽ những vấn đề khoa học vật lý cũng như biết được địa vị của mình trong giới khoa bảng Mỹ, tôi tin chắc ông Thuận phải có những lý do sâu xa và cần thiết thúc đẩy ông cộng tác với Matthieu trong việc viết cuốn HSLT.
Trở lại cuốn HSLT, theo tôi, nếu giữ được tinh thần khách quan thì cuốn sách cũng có những điểm đáng đọc, tuy rằng những vấn đề đã cũ, đã được bàn cãi từ khá lâu trong quá nhiều sách báo và không còn là những đề tài nóng hổi và “hợp thời trang” như những thập niên trước. Điểm khác biệt giữa vật lý học và triết lý Phật giáo có thể nói rất tóm tắt như sau: môn vật lý là một khoa học thực nghiệm, dùng phương pháp quy giản-reductionistic approach- để đi đến một hiểu biết và kết luận chung cho sự vận hành và biến hóa của vũ trụ. Trong khi đó, Phật giáo là một triết lý sống có những giá trị thực tiễn ứng dụng cho con người trong việc đi tìm ý nghĩa và giá trị của cuộc đời bằng cách tự nhìn thẳng vào nội tâm mỗi người. Tâm mờ ám bẩn thỉu thì con người sống như một lũ ngạ quỷ hay súc vật đói khát, tâm trong sạch thì con người sẽ hướng thượng và nhận ra được bản chất chân thực-Phật tính-của mình. Muốn hiểu người phải tự xét lấy mình.
Theo tôi biết, đức Phật không chú trọng đến những suy nghĩ siêu hình vì nó không mang lại được những giá trị cụ thể trong đời sống. Người Phật tử sống theo khuôn giới của Bát Chính Đạo để phát triển tinh thần Bi, Trí, Dũng và từ đó có thể triệt hạ lửa Tham Sân Si vốn hiện hữu trong mỗi chúng ta. Đức Phật không hề đặt những câu hỏi như triết gia tây phương, “Con người từ đâu mà ra, tại sao lại có vũ trụ, có để làm gì” nhưng Phật chỉ cho con người một thế đứng triết lý, một cách quán xét cuộc đời, và một cách ăn ở để tự mang lại giá trị cho mình cũng như tha nhân và từ đó phát triển được chữ tâm vốn là nền tảng của mọi sự. Đây là một holistic approach-một phương cách tìm hiểu thực tại tổng thể trái ngược với những phương pháp quy giản của vật lý học.
Theo nhận xét của tôi, nói theo ngôn ngữ thông thường đôi khi cũng có thể có những trùng hợp tương tự về nhận thức của những trí tuệ lớn. Tôi lấy ví dụ hai phát biểu sau đây. Câu thứ nhất,“Không gian sẽ không còn tính chất thực hữu của nó nếu không có những sự vật đây đó như mặt trời hay mặt trăng”
Câu thứ hai, “Vật chất là yếu tố cần thiết tất hữu để cho không gian mang tính hiện thực của nó” Đây là hai câu nhận xét giống nhau của hai trí tuệ lớn của hai nền văn hóa cách nhau 25 thế kỷ. Câu đầu tiên được tin là của Đức Phật thốt ra, và câu thứ hai không ai khác hơn là Albert Einstein, nhà bác học quen thuộc. Nhưng nếu vì những phát biểu có vẻ trùng hợp như vậy mà ta quả quyết rằng “Đức Phật hiểu thuyết tương đối cũng như Einstein” thì quả là một ngộ nhận sơ hở và thiếu thận trọng.
Sau đây tôi xin được giới thiệu đề tài của mỗi chương trong cuốn sách:
Khoa học chạm trán triết học (At the crossroads
Hiện hữu hay Hư vô (To be or not to be)
Thượng Đế ở đâu? (In search of the great watch maker)
Nhìn cây thấy rừng (The universe in a grain of sand)
Ảo ảnh của hiện thực (Mirages of reality)
Sự bất thường hằng của hiện hữu (Like a abolt from the blue)
Bản chất của hiện thực (Each is his own reality)
Đi tìm thời gian (Questions of time)
Hỗn mang và Hài hòa (Chaos and harmony)
Biên cương ảo ảnh (The virtual frontier)
Người máy suy tư (Robots that think they can think)
Quy luật thiên nhiên (The grammar of the universe)
Lý trí và suy tư (Reason and contemplation)
Quan niệm về cái đẹp (Beauty is in the eye of the beholder)
Từ thiền tịnh đến hành động (From meditation to action)
Kết luận của nhà sư (The monk’s conclusion)
Kết luận của nhà khoa học (The scientist’s conclusion)
Mỗi chương trên đây là một đề tài siêu hình và khoa học rộng rãi và muốn có một phân tách đúng mức đòi hỏi người đọc phải đọc nhiều sách tương tương để tham khảo thêm. Vì số trang chỉ có giới hạn trong một tạp chí, tôi hy vọng sẽ có dịp khai triển một cách chi tiết những đề tài thú vị này trong những số báo tới. Tôi xin tạm lấy ví dụ: chương 6- Sự bất thường hằng của hiện hữu, trong đó Matthieu và Thuận đề cập khá nhiều đến khoa vật lý cao cấp. Người đọc sẽ bối rối khi đọc phải những từ như “quarks”, “standard model”, “superstrings”, “quantum gravity”, “charges”, “spin” Đem những vấn đề này vào trong một cuốn sách sẽ làm rối trí những người đọc nào chưa có một chuẩn bị về những kiến thức khoa học. Tôi lấy ví dụ: Thuyết siêu vi tuyến-superstrings- xem mọi thứ trong vũ trụ là sự rung động của không gian vi tuyến trong siêu tầng vũ trụ có 11 chiều-Matter is the manisfestation of vibrating strings. Strings themselves are the vibrations of space in the 11 dimension hyper-universe.
Có tất cả ba nấc thang trừu tượng từ siêu vi tuyến xuống con người. Ông Thuận nói chuyện trên tầng cấp cao nhất và nhỏ nhất, Matthieu nói chuyện trên tầng cấp thấp nhất nhưng phức tạp nhất-tức con người hữu thể. Thành ra hai người nói chuyện không cùng một bình diện suy nghĩ, và nếu có sự bất đồng ý thì cũng là chuyện dễ xẩy ra.
Người đọc chỉ đọc nhưng không hiểu công việc của những toán học gia cũng như vật lý gia trong suy nghĩ này. Cũng như chúng ta quen thuộc với công thức của Einstein E=MCC nhưng không hiểu tại sao Einstein lại đi đến công thức đó nếu chúng ta không được trang bị bằng những thứ toán học cao cấp.
Trở lại cuốn sách. Những bàn cãi giữa hai tác giả trong cuốn sách có mục đích tìm hiểu những mối tương quan giữa khoa học và Phật học trong việc giải thích thực tại, và theo tôi, nếu có những tương quan đáng đề cập nhất, đó là Phật giáo và thuyết lượng tử đều phủ nhận một “thực tại khách quan-objective reality”. Ngoài ra, tâm thức và tính liên kết của hiện tượng (interdependence of phenomena) là một tương quan khác.
Matthieu Ricard đưa ra một số giải thích theo tôi tinh vi và sâu sắc. Những vấn đề ông đề cập hầu hết là những nghi vấn triết lý quen thuộc. Người đọc có thể hiểu rõ hơn về những điểm triết lý chính của Phật giáo trong việc giải thích tâm thức, ngoài ra, ông cũng trình bầy cách tu tập, cách hành đạo trong Phật giáo để phát huy Phật tính của mỗi cá nhân, những phương pháp thiền quán giúp người tu hành có một cuộc sống an bình và yên ổn trong tâm hồn. Phật giáo quan niệm hư vô/nihilism, sự trống không/nothingness, và chân như/emptiness không giống nhau. Cuốn sách cũng đề cập đến những biện chứng về tính không của triết gia trung đạo Nagarjuna (Ta hay quen gọi là Long Thọ Bồ Tát).
Chương 13 bàn về hai trình độ biết (knowledge) của khoa học và khả năng minh triết (higher awareness) của Phật giáo và là một chương quan trọng.
Tuy nhiên, đề tài chính của cuốn sách vẫn là những khám phá của thuyết lượng tử về bản chất sự vật và ý nghĩa triết lý. Khoa học hiện đại tận dụng hiểu biết về thuyết lượng tử vào những ứng dụng kỹ thuật nhưng mặt siêu hình vẫn chưa được triết gia nghiên cứu đến nơi chốn.
Trang 76, Thuận đã hỏi sư Matthieu một câu quen thuộc nhưng khó trả lời nếu suy tư bằng thứ luận lý thông thường,
“theo Phật giáo, thế giới này hiện hữu hay không hiện hữu nếu không được tâm thức quán sát?” Matthieu đã trả lời bằng một giải thích mang tính “Trung đạo-Middle way”. Ông cho thấy câu hỏi đó vô nghĩa nếu trả lời bằng một xác quyết dựa trên hư vô luận, khái niệm luận hay duy vật luận.
Chương 5 bàn cãi về tính khách quan của hiện thực và những tranh cãi chung quanh lý luận dựa trên duy vật bản thể luận giữa những vật lý gia lừng danh thế kỷ trước như Bohr, Einstein, Heisenberg về những vật cực nhỏ như hạt điện tử hay nguyên tử, và Matthieu đưa ra một nhận xét của đức Phật về tính duyên khởi của sự vật qua lời của vật lý gia Laurent Nottale.
Trong phần kết luận, Thuận cũng đã phản đối những suy nghĩ “chống tôn giáo” của Steven Weinberg. Xin xem cuốn “Ngẩng Mặt-Facing Up”, một cuốn sách mới của lý thuyết gia vật lý nổi tiếng này với những phát biểu như,
“Tôn giáo là một động lực thúc đẩy con người vốn tốt lành làm chuyện xấu xa-for good people to do evil - that takes religion...”
Thuận cho rằng Weinberg đã sai lầm. Nhưng theo tôi chính Thuận đã lầm. Chỉ nội một vụ September 11 cũng đã đủ cho thấy có những phần tử quá khích thuộc Hồi giáo cực đoan sẵn sàng nhúng tay vào những vụ thảm sát ghê gớm nhất mà động lực chính là tôn giáo. Những niềm tin ngu xuẩn mù quáng vào cái gọi là “thiên đàng” của những tay không tặc đã đem lại chết chóc và đau thương cho bao nhiêu người. Tôi xin để người đọc tự suy nghĩ về những điều này. Tôi cũng xin để người đọc tự suy nghĩ về những giáo điều của những tôn giáo độc thần.
Theo tôi, Thuận và Weinberg đều có lý do riêng. Weinberg quan niệm tôn giáo như một thứ vũ khí xâm lăng và thống trị của người da trắng như KiTô giáo thời trung cổ, trong khi đó, Thuận nhìn tôn giáo như một phương pháp khai mở tâm linh như Phật giáo tại Á đông.
Theo tôi, Thuận cũng đã ngộ nhận khi ông phàn nàn khoa học bằng cách nêu ra những thí dụ tác hại của khoa học như bom nguyên tử ở Hiroshima và nạn diệt chủng Holocaust . Chúng ta không thể so sánh sự khảo sát khoa học thuần túy và sự ứng dụng sai lầm những kiến thức khoa học vào việc gây tội ác của những tay lãnh đạo chính trị điên khùng như Adof Hitler.
Weinberg cũng đã nặng phê phán một cách thiếu cân nhắc khi ông cho rằng tôn giáo là động lực chính đưa con người đến chỗ làm bậy. Con người với trí khôn lắt léo có thể nhân danh tôn giáo hay bất cứ một chiêu bài nào đó để làm việc thiện hay việc ác. Ông ta quên rằng những đạo quân viễn chinh dẫm nát Châu Âu Châu Á của đế quốc du mục Mông Cổ thời xưa đâu cần đến một thứ tôn giáo nào làm hậu thuẫn cho vó ngựa xâm lăng.
Thuận kết thúc cuốn sách qua một câu nhận định của Albert Einstein về Phật giáo, “Tôn giáo trong thời đại sắp đến sẽ là một vũ trụ đạo.Tôn giáo này sẽ vượt qua những ý niệm Thượng Đế hiểu theo lề lối tín điều và thần học. Tôn giáo đó sẽ đặt nền tảng trên những cảm quan siêu hình xuất phát tự kinh nghiệm mỗi cá nhân về cả hai mặt tinh thần cũng như vật chất, và hai mặt này vốn vẫn là một nguyên thể đầy ý nghĩa. Phật giáo trả lời được vấn đề này...nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được những đòi hỏi của nền khoa học hiện đại, đó là Phật giáo”
Câu kết luận của Thuận mang tính chất dung hòa, nó là một phát biểu có ý nghĩa tôi xin lập lại cùng bạn đọc,
“Khoa học có thể tự nó phát triển mà không cần đến khía cạnh tâm linh. Hoạt động tâm linh cũng có thể tự phát triển mà không cần đến những khám phá khoa học. Nhưng con người nếu muốn đạt đến chỗ toàn thiện, cần có cả hai yếu tố tâm linh và khoa học.”
Matthieu chấm dứt cuốn sách bằng một nhận định về quan niệm thân tâm là một của Phật giáo (mind-body) và ông quan niệm rằng khi người tu tập đạt đến trạng thái chân như, con người sẽ tự phát khởi được một mối từ tâm và tình thương vô hạn đối với chúng sinh (boundless love and compassion)
Về nhận định “chống tôn giáo” của vật lý gia Weinberg, Matthieu trả lời, “Chỉ khi nào phần tâm linh được khai mở, thì những kẻ đồ tể mới buông dao trở thành Phật-Only spirituality can make evil beings do good”
Câu hỏi cuối cùng khi tôi gập quyển sách lại và suy tư không phải là: Khoa học và Phật học có gặp nhau hay không như đầu đề cuốn sách đã quảng cáo? Nếu Phật học và khoa học không gặp nhau thì sao? Và nếu quả thật chúng gặp nhau thì sao? Con người có thể làm gì cho mình qua những hiểu biết khoa học? Và một cuộc sống đơn giản tuân theo những giới luật của Phật giáo sẽ mang lại ích lợi và ý nghĩa gì cho cá nhân và tha nhân?
Những gì thuộc phạm vi triết lý siêu hình khó có thể nói đúng hay sai, có hay không có, gặp hay không gặp. Đó là kết luận của tôi.
The Quantum and the Lotus, do they meet?
Tôi xin để cho người đọc tự có một trả lời tùy theo trí tuệ, căn nghiệp và đạo hạnh của mình. Tôi xin được tạm chấm dứt bài điểm nơi đây, trong tương lai, tôi hy vọng sẽ có thể đóng góp những bài vở chi tiết hơn cho báo Phật Giáo Việt Nam về những tiết mục một trong cuốn sách này, những tiết mục mà tôi đã nêu ra phần trên. Mỗi chương của nó là một đề tài lớn cần được khai triển một cách khúc chiết hơn trong những bài viết cặn kẽ.
Cách đây khoảng 20 năm, một vật lý gia trẻ tuổi tên Fritjof Capra viết cuốn The Tao of Physics, được xem là cuốn sách tiêu biểu khởi đầu cho một phong trào văn hóa mới với nhiều sách nghiên cứu về những tương quan giữa môn vật lý học và triết lý Đông phương. Phong trào này được biết là “New Age” Hoa Sen và Lượng Tử theo tôi biết là cuốn sách mới nhất thuộc khuynh hướng này. Đây là một tác phẩm viết dưới dạng đối thoại của hai tác giả Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận. Sách dầy 312 trang, nhà xuất bản Crown, NewYork, năm 2001. Cuốn sách đã được đức Đạt Lai Lạt Ma phê bình như sau,
“Cuốn sách là một thành quả mỹ mãn của một cuộc đối thoại sâu sắc giữa khoa học Tây phương và Triết lý Phật giáo. Tác phẩm đáng kể này sẽ là một đóng góp lớn giúp chúng ta đi tìm ý nghĩa thật sự của thiên nhiên cũng như giúp ta trong cách xử thế và ăn ở trên đời.”
Matthieu Ricard, tăng sĩ Phật giáo người Pháp được biết tiếng qua tác phẩm “Tăng Sĩ và Triết Gia”. Xuất thân một khoa học gia, ông bỏ nghề, thí phát đi tu. Hiện ông sống và tu tập tại Nepal và là dịch giả Pháp ngữ của đức Lạt Ma.
Trịnh Xuân Thuận, thiên văn gia và vật lý không gian, được biết tiếng qua những tác phẩm khoa học giá trị như “Giai Điệu Bí Mật”, “Hỗn Mang và Hài Hòa”. Ông xuất thân từ đại học CalTech tại Pasadena, California. Theo tôi biết, ông hiện là chuyên gia nghiên cứu sự tạo thành của những nhóm thiên hà-galaxy formation. Ở Mỹ, ông Thuận là một thiên văn gia không mấy nổi tiếng. Tại Pháp, ông được biết đến nhiều hơn vì những sách ông viết. Tôi nghe nói độc giả Pháp xem ông như Carl Sagan, một người truyền bá kiến thức khoa học phổ thông cho đại chúng (science popularizer)
Hai người gặp nhau tại một hội đồng đại học năm 1997. Cơ duyên đến với họ khi họ đưa ra một số đề tài vật lý và triết học Phật giáo để cùng thảo luận. Tác phẩm này là tập hợp của những buổi nói chuyện ấy.
Tác phẩm gồm 15 chương. Mỗi chương thảo luận về một đề tài khác nhau. Với những độc giả không quen thuộc với những khám phá mới của khoa vật lý hiện đại cũng như những quan niệm trừu tượng của đạo học tôi sợ rằng cuốn sách không hấp dẫn vì nó chuyên chở nhiều vấn đề thuộc lãnh vực vật lý lượng tử và siêu hình học đông phương, những vấn đề “hình nhi thượng” không quen thuộc trong đời sống thường ngày.Trước khi vào chuyện, tôi cũng xin có chút ý kiến. Giới khoa học gia nói chung có khuynh hướng nghi ngờ, nếu không muốn nói là coi thường loại sách pha trộn khoa học lẫn tôn giáo. Tôi xin đưa ra một vài ví dụ:
-Leon Lederman, vật lý gia đoạt giải Nobel, đã châm biếm thứ tương quan khoa học/huyền học. Ông xem nó là việc làm thiếu tinh thần khoa học và diễu cợt rằng người ta cũng có thể tìm thấy những tương quan giữa môn vật lý, thiền học, và lối nấu ăn Tầu tỉnh Hồ Nam.
-Stephen Hawking, vật lý gia tật nguyền nổi tiếng thế giới, đã phê bình nặng nề việc so sánh những tương quan này là “trò rác rến-rubbish”.
-Trong cuốn Quantum Generations, sử gia khoa học Helge Kragh nói rằng những khía cạnh siêu hình của vật lý lượng tử không được chú trọng và khoa học gia không xem đó là những bí ẩn cần nghiên cứu.
-Một vật lý gia khác, David Lindley, phê bình rằng không có gì tương đồng giữa khoa học và triết lý đông phương và ông cho rằng sự tương quan ấy chỉ là những ngộ nhận của thứ ngôn ngữ trừu tượng mà ra. Triết lý Đông phương có những trừu tượng của nó, khoa học lượng tử cũng có những trừu tượng của nó, và người đọc nếu không vội vàng nhận xét kỹ thường cho là khoa học và đạo học “gặp nhau” chỉ vỉ những trùng hợp vô tình của ngôn ngữ.
-Gerard t’ Hoft, vật lý gia giải Nobel, cũng đã cảnh giác người đọc về lối so sánh khoa học trộn đạo học này.
Theo tôi biết, trong số những vật lý gia nổi tiếng thế kỷ trước, có một vài người ưa chuộng triết lý Phật giáo và Đông phương nói chung, nhưng điều này không có nghĩa là phải có những điểm tương đồng giữa đạo học và vật lý học. Một vài ví dụ:
-Niels Bohr, một vật lý gia, đã ưa chuộng nguyên lý Âm Dương của triết lý đông phương vì nguyên lý này phảng phất giống lối suy nghĩ của ông về quan niệm “complementarity-hổ tương” nhưng điều này không có nghĩa gì đặc biệt trong cách làm việc của ông trong việc thành lập thuyết lượng tử.
-Vật lý gia Murray-Gellman khi tạo ra quark theory, đã đùa nghịch dùng triết lý “Bát chánh đạo-Eightfold way” của Phật giáo vào trong mô hình quark. Sự nghịch ngợm này của ông có thể bị người đời vô tình hiểu lầm là mô hình quark và triết lý bát chánh đạo giống nhau. Thực ra điều này chỉ có tính cách đùa giỡn khôi hài, hoàn toàn không có những liên quan giữa thuyết bát chánh của Phật giáo và vật lý học.
-Heisenberg, Schrodinger là những tên tuổi lớn trong thế giới vật lý, họ có chung những cảm nghiệm tâm linh phảng phất mùi vị triết lý đông phương và họ cũng đã là những người tìm hiểu học thuyết đông phương. Nhưng theo tôi đây chỉ là những cảm quan cá nhân đi ra ngoài phạm vi khoa học, không liên quan gì đến cách thức họ sử dụng toán học để khám phá bản chất sự vật.
-David Bohm, một vật lý gia khá nổi tiếng và là một huyền nhiệm gia với thuyết “implicate order-trật tự ẩn tàng” cũng như những quan niệm khó hiểu như “quantum potential-tiềm năng nguyên lượng” “enfolding reality-thực tại biểu hiện” Ông viết khá nhiều sách có liên quan đến những quan niệm của triết học siêu hình Đông phương có một thời làm say mê một số đông “đệ tử” theo phong trào New Age nhưng việc làm của ông thường bị nhìn bằng cặp mắt nghi ngờ của giới khoa học chính thống.
Theo tôi, trên một phương diện, cuốn HSLT cũng phần nào tương tự như cuốn The Quark and The Jaguar của vật lý gia Murray-Gellman, xuất bản năm 1994. Ông ta viết cuốn sách đó vì muốn trình bày những điểm giống nhau giữa bản chất đơn giản-simplicity của vi hạt quark, và trạng thái phức tạp-complexity, của một sinh vật như con beo Jaguar. Cuốn sách không được thành công như những cuốn của Stephen Hawking.
Khuynh hướng dùng khoa học để “chứng minh” thần học là một khuynh hướng thường xẩy ra. Những khoa học gia theo KiTô giáo cũng đã dùng thuyết tiến hóa và thuyết BigBang để “chứng minh” rằng những chuyện cổ tích trong Kinh thánh phản ảnh sự thật và Thượng Đế là một đấng hằng hữu có thật. Họ cho rằng nếu chúng ta cảm thấy có vấn đề thì vấn đề nằm ở cách chúng ta đọc và hiểu kinh thánh chứ không phải kinh thánh sai. Ví dụ như trong thập niên 1950 giáo hoàng Pius XII của Vatican đã tuyên bố là thuyết BigBang là một chứng minh cho thấy câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng Thế Ký là đúng, phản ảnh sự thực xẩy ra. BigBang là khởi điểm của sự tạo dựng ra vũ trụ do bàn tay và ý muốn của Thượng Đế-đó là theo niềm tin chung của KiTô giáo
Tôi đã đọc một số tác phẩm của vài khoa học gia, giáo sư đại học thuộc KiTô giáo viết về những tương quan giữa khoa học và thánh kinh. Một vài người điển hình như Gerald Schroeder, John Polkinghorne, William Craig, Kenneth Miller, Phillip Johnson. Những người này trình độ học vấn cao cấp và đã viết nhiều sách để “chứng minh” cho sự hiện hữu của Thượng Đế bằng những khám phá khoa học, kể cả thuyết tiến hóa. Dĩ nhiên, những lý luận của họ rất tinh vi và khôn khéo. Muốn hiểu được và bẻ gẫy được những lý luận của họ đòi hỏi người đọc phải có một trình độ tương đối cao.
Trên một phương diện, cuốn Hoa Sen Lượng Tử đã đi vào vết bánh xe cũ, ra ngoài truyền thống khoa học chân chính. Và đây là một việc làm tương đối nguy hiểm có thể gây ảnh hưởng cho nghề nghiệp của người viết. Tuy nhiên theo tôi, ông Thuận thừa khôn ngoan để biết cuốn sách sẽ có ảnh hưởng gì đến tiếng tăm của ông. Là một người thông minh, uyên bác, am tường cặn kẽ những vấn đề khoa học vật lý cũng như biết được địa vị của mình trong giới khoa bảng Mỹ, tôi tin chắc ông Thuận phải có những lý do sâu xa và cần thiết thúc đẩy ông cộng tác với Matthieu trong việc viết cuốn HSLT.
Trở lại cuốn HSLT, theo tôi, nếu giữ được tinh thần khách quan thì cuốn sách cũng có những điểm đáng đọc, tuy rằng những vấn đề đã cũ, đã được bàn cãi từ khá lâu trong quá nhiều sách báo và không còn là những đề tài nóng hổi và “hợp thời trang” như những thập niên trước. Điểm khác biệt giữa vật lý học và triết lý Phật giáo có thể nói rất tóm tắt như sau: môn vật lý là một khoa học thực nghiệm, dùng phương pháp quy giản-reductionistic approach- để đi đến một hiểu biết và kết luận chung cho sự vận hành và biến hóa của vũ trụ. Trong khi đó, Phật giáo là một triết lý sống có những giá trị thực tiễn ứng dụng cho con người trong việc đi tìm ý nghĩa và giá trị của cuộc đời bằng cách tự nhìn thẳng vào nội tâm mỗi người. Tâm mờ ám bẩn thỉu thì con người sống như một lũ ngạ quỷ hay súc vật đói khát, tâm trong sạch thì con người sẽ hướng thượng và nhận ra được bản chất chân thực-Phật tính-của mình. Muốn hiểu người phải tự xét lấy mình.
Theo tôi biết, đức Phật không chú trọng đến những suy nghĩ siêu hình vì nó không mang lại được những giá trị cụ thể trong đời sống. Người Phật tử sống theo khuôn giới của Bát Chính Đạo để phát triển tinh thần Bi, Trí, Dũng và từ đó có thể triệt hạ lửa Tham Sân Si vốn hiện hữu trong mỗi chúng ta. Đức Phật không hề đặt những câu hỏi như triết gia tây phương, “Con người từ đâu mà ra, tại sao lại có vũ trụ, có để làm gì” nhưng Phật chỉ cho con người một thế đứng triết lý, một cách quán xét cuộc đời, và một cách ăn ở để tự mang lại giá trị cho mình cũng như tha nhân và từ đó phát triển được chữ tâm vốn là nền tảng của mọi sự. Đây là một holistic approach-một phương cách tìm hiểu thực tại tổng thể trái ngược với những phương pháp quy giản của vật lý học.
Theo nhận xét của tôi, nói theo ngôn ngữ thông thường đôi khi cũng có thể có những trùng hợp tương tự về nhận thức của những trí tuệ lớn. Tôi lấy ví dụ hai phát biểu sau đây. Câu thứ nhất,“Không gian sẽ không còn tính chất thực hữu của nó nếu không có những sự vật đây đó như mặt trời hay mặt trăng”
Câu thứ hai, “Vật chất là yếu tố cần thiết tất hữu để cho không gian mang tính hiện thực của nó” Đây là hai câu nhận xét giống nhau của hai trí tuệ lớn của hai nền văn hóa cách nhau 25 thế kỷ. Câu đầu tiên được tin là của Đức Phật thốt ra, và câu thứ hai không ai khác hơn là Albert Einstein, nhà bác học quen thuộc. Nhưng nếu vì những phát biểu có vẻ trùng hợp như vậy mà ta quả quyết rằng “Đức Phật hiểu thuyết tương đối cũng như Einstein” thì quả là một ngộ nhận sơ hở và thiếu thận trọng.
Sau đây tôi xin được giới thiệu đề tài của mỗi chương trong cuốn sách:
Khoa học chạm trán triết học (At the crossroads
Hiện hữu hay Hư vô (To be or not to be)
Thượng Đế ở đâu? (In search of the great watch maker)
Nhìn cây thấy rừng (The universe in a grain of sand)
Ảo ảnh của hiện thực (Mirages of reality)
Sự bất thường hằng của hiện hữu (Like a abolt from the blue)
Bản chất của hiện thực (Each is his own reality)
Đi tìm thời gian (Questions of time)
Hỗn mang và Hài hòa (Chaos and harmony)
Biên cương ảo ảnh (The virtual frontier)
Người máy suy tư (Robots that think they can think)
Quy luật thiên nhiên (The grammar of the universe)
Lý trí và suy tư (Reason and contemplation)
Quan niệm về cái đẹp (Beauty is in the eye of the beholder)
Từ thiền tịnh đến hành động (From meditation to action)
Kết luận của nhà sư (The monk’s conclusion)
Kết luận của nhà khoa học (The scientist’s conclusion)
Mỗi chương trên đây là một đề tài siêu hình và khoa học rộng rãi và muốn có một phân tách đúng mức đòi hỏi người đọc phải đọc nhiều sách tương tương để tham khảo thêm. Vì số trang chỉ có giới hạn trong một tạp chí, tôi hy vọng sẽ có dịp khai triển một cách chi tiết những đề tài thú vị này trong những số báo tới. Tôi xin tạm lấy ví dụ: chương 6- Sự bất thường hằng của hiện hữu, trong đó Matthieu và Thuận đề cập khá nhiều đến khoa vật lý cao cấp. Người đọc sẽ bối rối khi đọc phải những từ như “quarks”, “standard model”, “superstrings”, “quantum gravity”, “charges”, “spin” Đem những vấn đề này vào trong một cuốn sách sẽ làm rối trí những người đọc nào chưa có một chuẩn bị về những kiến thức khoa học. Tôi lấy ví dụ: Thuyết siêu vi tuyến-superstrings- xem mọi thứ trong vũ trụ là sự rung động của không gian vi tuyến trong siêu tầng vũ trụ có 11 chiều-Matter is the manisfestation of vibrating strings. Strings themselves are the vibrations of space in the 11 dimension hyper-universe.
Có tất cả ba nấc thang trừu tượng từ siêu vi tuyến xuống con người. Ông Thuận nói chuyện trên tầng cấp cao nhất và nhỏ nhất, Matthieu nói chuyện trên tầng cấp thấp nhất nhưng phức tạp nhất-tức con người hữu thể. Thành ra hai người nói chuyện không cùng một bình diện suy nghĩ, và nếu có sự bất đồng ý thì cũng là chuyện dễ xẩy ra.
Người đọc chỉ đọc nhưng không hiểu công việc của những toán học gia cũng như vật lý gia trong suy nghĩ này. Cũng như chúng ta quen thuộc với công thức của Einstein E=MCC nhưng không hiểu tại sao Einstein lại đi đến công thức đó nếu chúng ta không được trang bị bằng những thứ toán học cao cấp.
Trở lại cuốn sách. Những bàn cãi giữa hai tác giả trong cuốn sách có mục đích tìm hiểu những mối tương quan giữa khoa học và Phật học trong việc giải thích thực tại, và theo tôi, nếu có những tương quan đáng đề cập nhất, đó là Phật giáo và thuyết lượng tử đều phủ nhận một “thực tại khách quan-objective reality”. Ngoài ra, tâm thức và tính liên kết của hiện tượng (interdependence of phenomena) là một tương quan khác.
Matthieu Ricard đưa ra một số giải thích theo tôi tinh vi và sâu sắc. Những vấn đề ông đề cập hầu hết là những nghi vấn triết lý quen thuộc. Người đọc có thể hiểu rõ hơn về những điểm triết lý chính của Phật giáo trong việc giải thích tâm thức, ngoài ra, ông cũng trình bầy cách tu tập, cách hành đạo trong Phật giáo để phát huy Phật tính của mỗi cá nhân, những phương pháp thiền quán giúp người tu hành có một cuộc sống an bình và yên ổn trong tâm hồn. Phật giáo quan niệm hư vô/nihilism, sự trống không/nothingness, và chân như/emptiness không giống nhau. Cuốn sách cũng đề cập đến những biện chứng về tính không của triết gia trung đạo Nagarjuna (Ta hay quen gọi là Long Thọ Bồ Tát).
Chương 13 bàn về hai trình độ biết (knowledge) của khoa học và khả năng minh triết (higher awareness) của Phật giáo và là một chương quan trọng.
Tuy nhiên, đề tài chính của cuốn sách vẫn là những khám phá của thuyết lượng tử về bản chất sự vật và ý nghĩa triết lý. Khoa học hiện đại tận dụng hiểu biết về thuyết lượng tử vào những ứng dụng kỹ thuật nhưng mặt siêu hình vẫn chưa được triết gia nghiên cứu đến nơi chốn.
Trang 76, Thuận đã hỏi sư Matthieu một câu quen thuộc nhưng khó trả lời nếu suy tư bằng thứ luận lý thông thường,
“theo Phật giáo, thế giới này hiện hữu hay không hiện hữu nếu không được tâm thức quán sát?” Matthieu đã trả lời bằng một giải thích mang tính “Trung đạo-Middle way”. Ông cho thấy câu hỏi đó vô nghĩa nếu trả lời bằng một xác quyết dựa trên hư vô luận, khái niệm luận hay duy vật luận.
Chương 5 bàn cãi về tính khách quan của hiện thực và những tranh cãi chung quanh lý luận dựa trên duy vật bản thể luận giữa những vật lý gia lừng danh thế kỷ trước như Bohr, Einstein, Heisenberg về những vật cực nhỏ như hạt điện tử hay nguyên tử, và Matthieu đưa ra một nhận xét của đức Phật về tính duyên khởi của sự vật qua lời của vật lý gia Laurent Nottale.
Trong phần kết luận, Thuận cũng đã phản đối những suy nghĩ “chống tôn giáo” của Steven Weinberg. Xin xem cuốn “Ngẩng Mặt-Facing Up”, một cuốn sách mới của lý thuyết gia vật lý nổi tiếng này với những phát biểu như,
“Tôn giáo là một động lực thúc đẩy con người vốn tốt lành làm chuyện xấu xa-for good people to do evil - that takes religion...”
Thuận cho rằng Weinberg đã sai lầm. Nhưng theo tôi chính Thuận đã lầm. Chỉ nội một vụ September 11 cũng đã đủ cho thấy có những phần tử quá khích thuộc Hồi giáo cực đoan sẵn sàng nhúng tay vào những vụ thảm sát ghê gớm nhất mà động lực chính là tôn giáo. Những niềm tin ngu xuẩn mù quáng vào cái gọi là “thiên đàng” của những tay không tặc đã đem lại chết chóc và đau thương cho bao nhiêu người. Tôi xin để người đọc tự suy nghĩ về những điều này. Tôi cũng xin để người đọc tự suy nghĩ về những giáo điều của những tôn giáo độc thần.
Theo tôi, Thuận và Weinberg đều có lý do riêng. Weinberg quan niệm tôn giáo như một thứ vũ khí xâm lăng và thống trị của người da trắng như KiTô giáo thời trung cổ, trong khi đó, Thuận nhìn tôn giáo như một phương pháp khai mở tâm linh như Phật giáo tại Á đông.
Theo tôi, Thuận cũng đã ngộ nhận khi ông phàn nàn khoa học bằng cách nêu ra những thí dụ tác hại của khoa học như bom nguyên tử ở Hiroshima và nạn diệt chủng Holocaust . Chúng ta không thể so sánh sự khảo sát khoa học thuần túy và sự ứng dụng sai lầm những kiến thức khoa học vào việc gây tội ác của những tay lãnh đạo chính trị điên khùng như Adof Hitler.
Weinberg cũng đã nặng phê phán một cách thiếu cân nhắc khi ông cho rằng tôn giáo là động lực chính đưa con người đến chỗ làm bậy. Con người với trí khôn lắt léo có thể nhân danh tôn giáo hay bất cứ một chiêu bài nào đó để làm việc thiện hay việc ác. Ông ta quên rằng những đạo quân viễn chinh dẫm nát Châu Âu Châu Á của đế quốc du mục Mông Cổ thời xưa đâu cần đến một thứ tôn giáo nào làm hậu thuẫn cho vó ngựa xâm lăng.
Thuận kết thúc cuốn sách qua một câu nhận định của Albert Einstein về Phật giáo, “Tôn giáo trong thời đại sắp đến sẽ là một vũ trụ đạo.Tôn giáo này sẽ vượt qua những ý niệm Thượng Đế hiểu theo lề lối tín điều và thần học. Tôn giáo đó sẽ đặt nền tảng trên những cảm quan siêu hình xuất phát tự kinh nghiệm mỗi cá nhân về cả hai mặt tinh thần cũng như vật chất, và hai mặt này vốn vẫn là một nguyên thể đầy ý nghĩa. Phật giáo trả lời được vấn đề này...nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được những đòi hỏi của nền khoa học hiện đại, đó là Phật giáo”
Câu kết luận của Thuận mang tính chất dung hòa, nó là một phát biểu có ý nghĩa tôi xin lập lại cùng bạn đọc,
“Khoa học có thể tự nó phát triển mà không cần đến khía cạnh tâm linh. Hoạt động tâm linh cũng có thể tự phát triển mà không cần đến những khám phá khoa học. Nhưng con người nếu muốn đạt đến chỗ toàn thiện, cần có cả hai yếu tố tâm linh và khoa học.”
Matthieu chấm dứt cuốn sách bằng một nhận định về quan niệm thân tâm là một của Phật giáo (mind-body) và ông quan niệm rằng khi người tu tập đạt đến trạng thái chân như, con người sẽ tự phát khởi được một mối từ tâm và tình thương vô hạn đối với chúng sinh (boundless love and compassion)
Về nhận định “chống tôn giáo” của vật lý gia Weinberg, Matthieu trả lời, “Chỉ khi nào phần tâm linh được khai mở, thì những kẻ đồ tể mới buông dao trở thành Phật-Only spirituality can make evil beings do good”
Câu hỏi cuối cùng khi tôi gập quyển sách lại và suy tư không phải là: Khoa học và Phật học có gặp nhau hay không như đầu đề cuốn sách đã quảng cáo? Nếu Phật học và khoa học không gặp nhau thì sao? Và nếu quả thật chúng gặp nhau thì sao? Con người có thể làm gì cho mình qua những hiểu biết khoa học? Và một cuộc sống đơn giản tuân theo những giới luật của Phật giáo sẽ mang lại ích lợi và ý nghĩa gì cho cá nhân và tha nhân?
Những gì thuộc phạm vi triết lý siêu hình khó có thể nói đúng hay sai, có hay không có, gặp hay không gặp. Đó là kết luận của tôi.
The Quantum and the Lotus, do they meet?
Tôi xin để cho người đọc tự có một trả lời tùy theo trí tuệ, căn nghiệp và đạo hạnh của mình. Tôi xin được tạm chấm dứt bài điểm nơi đây, trong tương lai, tôi hy vọng sẽ có thể đóng góp những bài vở chi tiết hơn cho báo Phật Giáo Việt Nam về những tiết mục một trong cuốn sách này, những tiết mục mà tôi đã nêu ra phần trên. Mỗi chương của nó là một đề tài lớn cần được khai triển một cách khúc chiết hơn trong những bài viết cặn kẽ.